ki-niem-15-voaa
Chủ nhật 11/10/2026 05:08Chủ nhật 11/10/2026 05:08 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: toasoan@tapchihuucovietnam.vn

Tag

Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Từ kết quả nghiên cứu đến ứng dụng trong sản xuất vẫn còn khoảng cách đáng kể. Thu hẹp khoảng cách ấy không chỉ đòi hỏi công nghệ tiên tiến, mà còn cần cơ chế phù hợp, sự tham gia của doanh nghiệp và người nông dân, cùng những giải pháp bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị, tương lai của ngành nông nghiệp phải được kiến tạo từ bằng chính sách đúng, khoa học công nghệ phù hợp và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Sáng 8/10, Học viện Nông nghiệp Việt Nam tổ chức Hội nghị quốc tế AgriVision 2026 với chủ đề “Kiến tạo nông nghiệp tương lai từ chính sách, công nghệ và đổi mới sáng tạo”, trong khuôn khổ các hoạt động kỷ niệm 70 năm thành lập Học viện. Một trong những vấn đề trọng tâm được đặt ra tại Hội nghị là làm thế nào để đưa các thành tựu khoa học, công nghệ vào thực tiễn, tạo ra giá trị thiết thực cho sản xuất và đời sống.

Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị nhấn mạnh, nông nghiệp đang đứng trước yêu cầu phát triển nhanh hơn, xanh hơn và bền vững hơn. Trong bối cảnh đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị nông sản.

Theo Thứ trưởng, hiệu quả khoa học không thể chỉ được đánh giá qua số lượng đề tài hay công trình nghiên cứu, mà cần được thể hiện bằng những chuyển biến cụ thể trên đồng ruộng, tại trang trại, nhà máy và thị trường; từ năng suất, chất lượng sản phẩm đến giá trị gia tăng và thu nhập của người sản xuất.

“Nông nghiệp muốn tăng trưởng không thể chỉ làm nhiều hơn, mà phải làm tốt hơn và tạo ra giá trị cao hơn”, Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị nói.

Từ yêu cầu đó, nghiên cứu khoa học cần gắn chặt hơn với những vấn đề đang đặt ra trong sản xuất và thị trường. Thay vì chỉ tập trung vào năng lực nghiên cứu sẵn có, các chương trình khoa học cần xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, tăng cường liên ngành và có lộ trình rõ ràng từ thử nghiệm, hoàn thiện đến thương mại hóa, nhân rộng.

Thực tế, một kết quả nghiên cứu có giá trị chưa đồng nghĩa với việc công nghệ đó có thể được ứng dụng rộng rãi. Trong khi doanh nghiệp và người sản xuất cần những giải pháp cụ thể, phù hợp với điều kiện sản xuất, không ít kết quả nghiên cứu vẫn gặp khó khăn khi chuyển sang thực tiễn.

Khoảng cách này đặt ra yêu cầu phải kết nối chặt chẽ hơn giữa cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp và người nông dân. Chính sách cần tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo; nghiên cứu phải giải quyết đúng bài toán sản xuất; doanh nghiệp tham gia hoàn thiện, thương mại hóa công nghệ; còn người nông dân cần được tiếp cận và hưởng lợi từ những thành quả đó.

Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan - Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam phát biểu tại hội thảo

Phát triển công nghệ phải đi cùng hiệu quả và trách nhiệm môi trường

Trong nông nghiệp tương lai, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, viễn thám và các nền tảng số được kỳ vọng góp phần chuyển đổi phương thức sản xuất, từ phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm sang ứng dụng dữ liệu, từ quản lý bị động sang tăng cường khả năng dự báo và từ chuỗi sản xuất phân tán sang chuỗi giá trị minh bạch, hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi phù hợp với điều kiện sản xuất, có chi phí hợp lý, bảo đảm an toàn và có khả năng được người sử dụng tiếp nhận. Nếu thiếu những điều kiện này, ngay cả một giải pháp có ưu thế về mặt kỹ thuật cũng khó tạo ra tác động trên diện rộng.

Từ góc nhìn của cơ sở đào tạo và nghiên cứu, GS.TS Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cho rằng phát triển nông nghiệp hiện nay phải đồng thời giải quyết nhiều yêu cầu: bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao thu nhập cho người sản xuất, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ tài nguyên và sức khỏe cộng đồng.

Theo bà, một giải pháp giúp tăng năng suất nhưng gây tổn hại lâu dài đến đất, nước hoặc sức khỏe thì không thể được xem là phát triển bền vững. Vì vậy, hiệu quả kinh tế cần được xem xét đồng thời với tác động xã hội và môi trường.

Đây cũng là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với quá trình phát triển nông nghiệp xanh và nông nghiệp hữu cơ. Việc lựa chọn công nghệ, vật tư đầu vào và phương thức tổ chức sản xuất không thể chỉ dựa trên khả năng gia tăng sản lượng trước mắt, mà cần tính đến tác động đối với hệ sinh thái, chất lượng nông sản và tính bền vững của sinh kế nông dân.

Đối với nông nghiệp hữu cơ, yêu cầu này càng đòi hỏi sự thận trọng trong nghiên cứu và ứng dụng. Các giải pháp công nghệ cần phù hợp với nguyên tắc, tiêu chuẩn áp dụng; đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đất, dinh dưỡng, dịch hại và chất lượng sản phẩm. Những lợi ích cụ thể phải được đánh giá bằng bằng chứng thực tiễn, thay vì chỉ dựa trên kỳ vọng về công nghệ.

Đưa khoa học nông nghiệp từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng
Nghiên cứu công nghệ sinh học kết hợp nông nghiệp thông minh, hướng đến phát triển nông nghiệp bền vững.

Người nông dân phải tham gia vào quá trình đổi mới sáng tạo

Một điểm đáng chú ý được GS.TS Nguyễn Thị Lan đề cập là khoảng cách từ một kết quả nghiên cứu tốt đến một giải pháp được sử dụng rộng rãi vẫn còn lớn. Muốn thu hẹp khoảng cách này, bên cạnh giá trị khoa học, cần giải quyết đồng thời các vấn đề về chi phí, độ an toàn, khả năng sử dụng và tiếp cận thị trường.

Người nông dân cũng cần được tham gia ngay từ quá trình xác định nhu cầu, lựa chọn và đánh giá giải pháp. Kinh nghiệm thực tế của họ có thể giúp nhà khoa học nhận diện đúng những khó khăn của sản xuất, trong khi kết quả về năng suất, thu nhập và chất lượng cuộc sống là những căn cứ quan trọng để đánh giá hiệu quả của đổi mới sáng tạo.

Cách tiếp cận này đòi hỏi mối liên kết thực chất hơn giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và người sản xuất. Thay vì chỉ chuyển giao một công nghệ đã hoàn thiện, các bên cần phối hợp trong quá trình thử nghiệm, điều chỉnh và đánh giá hiệu quả tại những điều kiện sản xuất cụ thể. Những mô hình chứng minh được tính khả thi mới có cơ sở để tiếp tục hoàn thiện và nhân rộng.

Tại AgriVision 2026, các đại biểu tập trung thảo luận những chủ đề như sức khỏe đất và carbon, chuyển đổi hệ thống nông sản - thực phẩm, công nghệ sinh học và nano, kiểm soát dịch bệnh và cách tiếp cận “Một sức khỏe”, gắn kết sức khỏe con người, động vật và môi trường.

GS.TS Nguyễn Thị Lan kỳ vọng Hội nghị không chỉ tạo diễn đàn trao đổi học thuật, mà còn hình thành các khuyến nghị dựa trên bằng chứng và những đề xuất hợp tác cụ thể. Học viện sẵn sàng kết nối các nhóm nghiên cứu liên ngành, đào tạo các nhà khoa học trẻ và xây dựng mô hình thử nghiệm gắn với nhu cầu của doanh nghiệp, địa phương và người sản xuất.

Sau 70 năm xây dựng và phát triển, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đặt mục tiêu tiếp tục phát huy vai trò là trung tâm đào tạo, nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, đồng thời đưa các kết quả khoa học đến gần hơn với thực tiễn.

Đưa khoa học từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng không đơn thuần là chuyển giao một công nghệ. Đó là quá trình kết nối tri thức với nhu cầu sản xuất, biến kết quả nghiên cứu thành giá trị kinh tế và bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích của người sản xuất với yêu cầu bảo vệ tài nguyên, môi trường. Khi người nông dân thực sự được hưởng lợi và các giải pháp chứng minh được hiệu quả trong thực tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo mới có thể trở thành động lực bền vững cho nền nông nghiệp Việt Nam.

Bài liên quan

Giới thực vật học Trung Quốc và Hoa Kỳ ký sáng kiến hợp tác ứng phó các thách thức toàn cầu

Giới thực vật học Trung Quốc và Hoa Kỳ ký sáng kiến hợp tác ứng phó các thách thức toàn cầu

Hội Thực vật học Trung Quốc và Hội Thực vật học Hoa Kỳ vừa ký kết sáng kiến hợp tác khoa học thực vật tại thành phố Thái An, tỉnh Sơn Đông, nhằm tăng cường quan hệ song phương và xây dựng cộng đồng khoa học mở để giải quyết các vấn đề toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt.
Lâm Đồng đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp

Lâm Đồng đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp

Ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang ngày càng được chú trọng trong sản xuất nông nghiệp tại Lâm Đồng, từ khâu giống, canh tác, tưới nước đến quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Đây được xem là một trong những hướng quan trọng nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường và hướng đến nền nông nghiệp xanh, bền vững.
Trung Quốc và Uruguay mở rộng hợp tác khoa học nhằm phát triển nông nghiệp

Trung Quốc và Uruguay mở rộng hợp tác khoa học nhằm phát triển nông nghiệp

Trung Quốc và Uruguay ký hơn 20 thỏa thuận hợp tác khoa học trong nhiều lĩnh vực, trong đó đáng chú ý là nghiên cứu kiểm soát sâu bệnh hại cây trồng và phát triển công nghệ robot nông nghiệp. Hợp tác này được kỳ vọng thúc đẩy đổi mới công nghệ trong sản xuất nông nghiệp và tăng cường an ninh lương thực.
Phân bón Cà Mau khẳng định thương hiệu robusta Việt từ chất lượng vùng trồng

Phân bón Cà Mau khẳng định thương hiệu robusta Việt từ chất lượng vùng trồng

Việt Nam giữ vị thế quốc gia sản xuất Robusta lớn nhất thế giới, đóng góp hơn 43% sản lượng toàn cầu. Đồng hành cùng ngành cà phê Việt, Phân bón Cà Mau góp phần nâng cao chất lượng vùng trồng, hướng tới phát triển bền vững và gia tăng giá trị Robusta Việt trên thị trường quốc tế.
10 năm Chương trình FFF: Gắn phát triển rừng, sản xuất hữu cơ với sinh kế bền vững

10 năm Chương trình FFF: Gắn phát triển rừng, sản xuất hữu cơ với sinh kế bền vững

Hơn 20.000 người hưởng lợi, thu nhập thành viên tăng 15 - 30% là những kết quả nổi bật của Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại (FFF) tại Việt Nam. Hội thảo tổng kết 10 năm chương trình đặt trọng tâm vào nâng cao năng lực tổ chức của nông dân, phát triển sản xuất hữu cơ và kết nối nguồn lực cho sinh kế bền vững.
Diễn đàn chuyển đổi số Hải Phòng 2026

Diễn đàn chuyển đổi số Hải Phòng 2026

Sáng 08/10, tại Trung tâm Hội nghị - Biểu diễn thành phố, UBND thành phố Hải Phòng trọng thể tổ chức Diễn đàn Chuyển đổi số thành phố Hải Phòng năm 2026 với chủ đề “Dữ liệu - AI - Tự động hóa: Động lực chiến lược cho phát triển kinh tế số và đô thị thông minh”.
Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Nông nghiệp hữu cơ đối mặt nhiều thách thức về chi phí giám sát, rủi ro dịch bệnh và tính minh bạch. Việc ứng dụng công nghệ số như IoT, AI, Blockchain, Big Data và UAV tạo ra bước ngoặt giúp tối ưu hóa quản lý, kiểm soát tiêu chuẩn nghiêm ngặt và công khai chuỗi giá trị. Bài viết phân tích thực trạng, hạ tầng công nghệ, tác động kinh tế - sinh thái, rào cản cốt lõi và đề xuất giải pháp phát triển bền vững.
Nông nghiệp hàng hóa từ những vùng trồng có “địa chỉ”

Nông nghiệp hàng hóa từ những vùng trồng có “địa chỉ”

Từ những vườn bưởi Soi Hà ven sông, vùng cam Vĩnh Hảo, Hàm Yên đến những nương chè Shan tuyết ở Thông Nguyên hay vùng nguyên liệu nghệ của Hợp tác xã Nông lâm nghiệp tổng hợp Ngọc Sơn, một phương thức sản xuất mới đang từng bước hình thành ở Tuyên Quang. Đó là xây dựng vùng trồng có quản lý, sản xuất theo tiêu chuẩn, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Không chỉ tạo ra sản phẩm an toàn, đồng đều hơn, cách làm này còn giúp nông sản có “địa chỉ”, từng bước đáp ứng yêu cầu của những thị trường ngày càng khắt khe và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?

Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Từ nền sản xuất dựa nhiều vào đất đai, lao động và kinh nghiệm truyền thống, ngành nông nghiệp đang từng bước chuyển sang mô hình dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, liên kết chuỗi và kinh tế xanh. Trong quá trình đó, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực trở thành yếu tố quyết định để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Nông nghiệp hữu cơ đối mặt nhiều thách thức về chi phí giám sát, rủi ro dịch bệnh và tính minh bạch. Việc ứng dụng công nghệ số như IoT, AI, Blockchain, Big Data và UAV tạo ra bước ngoặt giúp tối ưu hóa quản lý, kiểm soát tiêu chuẩn nghiêm ngặt và công khai chuỗi giá trị. Bài viết phân tích thực trạng, hạ tầng công nghệ, tác động kinh tế - sinh thái, rào cản cốt lõi và đề xuất giải pháp phát triển bền vững.
Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Các thử nghiệm đồng ruộng quy mô lớn trải dài từ Hắc Long Giang đến Hải Nam cho thấy nước tưới được xử lý bằng khoáng chất tự nhiên hoạt hóa dưới ánh nắng có thể nâng năng suất lúa tới 40,6%, mía 45,7% và khoai lang 109,5%, theo nhóm nhà khoa học thuộc Đại học Bắc Kinh.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Chuyển đổi hệ thống lương thực – thực phẩm không thể thành công nếu chỉ trông chờ vào một chính sách, một ngành, một doanh nghiệp hay một nhóm người. Việt Nam đã có Kế hoạch hành động quốc gia theo Quyết định 300/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhưng trong quá trình thực hiện vẫn gặp những khó khăn về nguồn lực, hướng dẫn, dữ liệu và năng lực của các bên. Điều quan trọng lúc này là biến mục tiêu lớn thành những việc cụ thể, để Nhà nước, địa phương, người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, truyền thông và người tiêu dùng cùng tạo ra thay đổi. Chuyển đổi chỉ thực sự xảy ra khi mỗi mắt xích nhận rõ trách nhiệm và cùng hành động.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Một nền nông nghiệp có thể tạo ra hàng triệu tấn lương thực, thực phẩm mỗi năm nhưng vẫn còn những điểm nghẽn trên hành trình từ cánh đồng đến bàn ăn. Người sản xuất có thể làm ra sản phẩm nhưng chưa chắc có thị trường ổn định, doanh nghiệp có thể có đơn hàng nhưng chưa chắc có vùng nguyên liệu bền vững, sản phẩm có chất lượng nhưng vẫn có thể mất giá trị nếu bảo quản, chế biến và logistics chưa đáp ứng. Vì vậy, bài toán của hệ thống lương thực - thực phẩm không chỉ là “sản xuất được bao nhiêu”, mà còn là sản xuất như thế nào, kết nối ra sao và giá trị được tạo ra, phân bổ như thế nào trong toàn chuỗi.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Mỗi ngày, một bữa cơm gia đình bắt đầu từ những điều rất quen thuộc: Hạt gạo, bó rau, con cá, quả trứng hay miếng thịt. Nhưng để những thực phẩm ấy xuất hiện trên bàn ăn là cả một hành trình dài, với sự tham gia của người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý, hệ thống phân phối và chính người tiêu dùng. Phía sau mỗi món ăn còn là đất, nước, lao động, công nghệ, thị trường, chính sách và môi trường. Hiểu được hành trình ấy chính là bước đầu tiên để mỗi người nhận ra mình đang ở đâu và có thể làm gì để cùng xây dựng một hệ thống lương thực - thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững.
Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ đang mở ra hướng tiếp cận mới trong ứng phó biến đổi khí hậu khi không chỉ giảm phụ thuộc vào vật tư hóa học mà còn góp phần gia tăng carbon trong đất. Thông qua đa dạng hóa cây trồng, sử dụng phân hữu cơ, cây che phủ, luân canh và giảm làm đất, hệ thống này có thể nâng cao khả năng lưu giữ carbon, cải thiện sức khỏe đất và phát triển nông nghiệp bền vững.
Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn cần được thực hiện đồng bộ từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ đến liên kết thị trường và chia sẻ lợi ích. Tại hội thảo khoa học tổ chức ngày 30/9 ở Ninh Bình, các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và hợp tác xã nhấn mạnh yêu cầu để người nông dân được hưởng lợi xứng đáng từ những giá trị sinh thái mà họ tạo ra.
AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

Ngày 30/9, tại Hà Nội, Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ năm 2026 (AOLC 2026) chính thức bế mạc, ghi nhận 27 học viên hoàn thành chương trình và vinh danh bốn đề án phát triển tiêu biểu. Từ những sáng kiến về thực phẩm học đường, sinh kế cộng đồng đến kết nối thị trường, khóa học mở ra kỳ vọng lan tỏa các thực hành nông nghiệp sinh thái, hữu cơ vào đời sống.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ không chỉ chịu tác động bởi nhận thức về sức khỏe và an toàn thực phẩm mà còn liên quan đến giá cả, chất lượng, niềm tin, kiến thức, khả năng tiếp cận và các chuẩn mực xã hội. Việc nhận diện đầy đủ những yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng chính sách, phát triển thị trường và thúc đẩy tiêu dùng thực phẩm hữu cơ bền vững tại Việt Nam.
Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Từ đất, nước, không khí, thời gian chuyển đổi đến vật tư đầu vào, phòng trừ sinh vật gây hại, thu hoạch, bảo quản và truy xuất nguồn gốc, từng khâu trong canh tác trên vùng hữu cơ tại Cần Thơ được quy định cụ thể.
Vai trò của Hợp tác xã trong phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững

Vai trò của Hợp tác xã trong phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững

Trong quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn và bền vững, hợp tác xã ngày càng giữ vai trò kết nối quan trọng giữa nông dân, doanh nghiệp và thị trường. Tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn, hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng thương hiệu và liên kết chuỗi giá trị giúp nông nghiệp hữu cơ nâng cao giá trị, sức cạnh tranh.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính