ki-niem-15-voaa
Thứ tư 21/10/2026 04:57Thứ tư 21/10/2026 04:57 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: toasoan@tapchihuucovietnam.vn

Tag

Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trường

Phạm Thông
Phạm Thông

phamthong.nnhcvn@gmail.com

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Từ vật tư đầu vào, tiêu chuẩn, chứng nhận đến tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nhiều vấn đề thực tiễn được các nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã đưa ra tại Hội thảo “Thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ và sinh thái ở Việt Nam”. Nhìn lại chặng đường 15 năm hình thành và phát triển của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) (2011 - 2026), các đại biểu đề xuất những giải pháp để mở rộng sản xuất, củng cố niềm tin thị trường và nâng cao giá trị cho người làm hữu cơ.
Toàn cảnh Hội thảo “Thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ và sinh thái ở Việt Nam” do Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam tổ chức ngày 20/10/2026 tại Hà Nội.
Toàn cảnh Hội thảo “Thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ và sinh thái ở Việt Nam” do Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam tổ chức ngày 20/10/2026 tại Hà Nội.

Ngày 20/10/2026, tại Hà Nội, Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) tổ chức Hội thảo “Thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ và sinh thái ở Việt Nam”, với chủ đề “15 năm đồng hành - Thực tiễn, định hướng và giải pháp”. Hội thảo nằm trong khuôn khổ Dự án “Tăng cường năng lực cho Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam” (Dự án KVP 1052). Đây là dự án hợp tác giữa Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam và Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Đức Naturland, được Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Cộng hòa Liên bang Đức (BMZ) tài trợ thông qua tổ chức SEQUA.

Hội thảo có sự tham dự của TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam; GS.TS Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội; đại diện các cơ quan quản lý, tổ chức nghiên cứu, Hội Nông dân Việt Nam, đối tác quốc tế, các chuyên gia, doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ trang trại đến từ nhiều địa phương.

Hội thảo gồm 9 tham luận, báo cáo chuyên đề cùng các phiên trao đổi, hỏi đáp. Những câu chuyện từ sản xuất sữa, rau quả, dược liệu, lúa gạo, gia vị, trà đến quản lý sinh vật hại, tiêu chuẩn và truy xuất nguồn gốc cho thấy yêu cầu phát triển hữu cơ phải được giải quyết trong toàn bộ chuỗi giá trị. Hội thảo cũng dành thời gian tham vấn ba nhóm vấn đề: vật tư đầu vào, thị trường và tiêu chuẩn.

TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, phát biểu khai mạc, đề nghị tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn về chính sách, vật tư đầu vào, nguồn nhân lực và thị trường.
TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam phát biểu khai mạc, đề nghị tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn về chính sách, vật tư đầu vào, nguồn nhân lực và thị trường.

Sáu định hướng từ chính sách đến con người và thị trường

Phát biểu khai mạc tại hội thảo, TSKH. Hà Phúc Mịch khẳng định phát triển nông nghiệp hữu cơ là xu thế tất yếu, gắn với yêu cầu bảo vệ sức khỏe con người, môi trường và nâng cao chất lượng tăng trưởng nông nghiệp. Nhân hội thảo diễn ra đúng Ngày Phụ nữ Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội gửi lời chúc mừng tới các nữ đại biểu, ghi nhận những đóng góp của phụ nữ trong gia đình, xã hội và hoạt động sản xuất.

Theo Chủ tịch VOAA, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cùng việc ban hành Nghị định 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ và Quyết định 885/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 - 2030 đã tạo nền tảng quan trọng cho lĩnh vực này. Đặc biệt, Nghị quyết 85/NQ-CP ngày 4/4/2026 của Chính phủ về thực hiện Kết luận 219-KL/TW, tiếp tục thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tiếp tục đặt ra yêu cầu phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, hữu cơ, tuần hoàn gắn với giá trị gia tăng và đời sống người dân.

Với mục tiêu phát triển nông nghiệp hữu cơ, TSKH. Hà Phúc Mịch nhấn mạnh cần hướng tới sản xuất có giá trị gia tăng cao, bền vững, thân thiện với môi trường sinh thái, gắn với kinh tế tuần hoàn; sản phẩm được chứng nhận phù hợp với các tiêu chuẩn của thị trường. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cần một chiến lược đồng bộ từ thể chế, khoa học công nghệ đến tổ chức sản xuất và thương mại.

Chủ tịch Hiệp hội đề nghị hội thảo tập trung vào sáu định hướng: hoàn thiện chính sách, khung pháp lý và quy hoạch vùng; nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ; chuẩn hóa hệ thống kiểm định và chứng nhận gắn với chuyển đổi số; liên kết chuỗi giá trị, phát triển thị trường; đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao nhận thức và truyền thông; tháo gỡ điểm nghẽn về vật tư đầu vào.

Trong đó, quy hoạch vùng chuyên canh cần quan tâm điều kiện thổ nhưỡng, nguồn nước, khả năng cách ly và kiểm soát nguồn ô nhiễm. Đào tạo phải đi cùng truyền thông để người sản xuất, cán bộ quản lý và người tiêu dùng hiểu đúng về hữu cơ. Những ý kiến tại hội thảo sẽ được Hiệp hội tiếp thu, tổng hợp, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu giải pháp tháo gỡ khó khăn.

PGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu phát triển nông nghiệp hữu cơ phù hợp với lợi thế sinh thái và điều kiện sản xuất của từng vùng.
PGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu phát triển nông nghiệp hữu cơ phù hợp với lợi thế sinh thái và điều kiện sản xuất của từng vùng.

Mở rộng hữu cơ từ quá trình chuyển đổi hệ sinh thái

Trình bày tham luận “Nông nghiệp hữu cơ và sinh thái ở Việt Nam: thực trạng, tiềm năng, khó khăn, giải pháp và những khuyến nghị chính sách”, PGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam đặt phát triển hữu cơ trong quá trình chuyển đổi nông nghiệp sinh thái và hệ thống lương thực, thực phẩm. Ông Đào Thế Anh cho rằng cần nhìn nhận đầy đủ cả thành tựu lẫn khó khăn khi mở rộng quy mô, nhất là đối với các hộ sản xuất nhỏ.

Một yêu cầu được Chủ tịch Hội Khoa học PTNT Việt Nam nhấn mạnh là khai thác lợi thế sinh thái của từng vùng, tránh áp dụng máy móc một mô hình chung. Điều kiện sản xuất ven đô khác miền núi; phương thức tổ chức ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng khác các vùng cao. Vì vậy, các giải pháp phải phù hợp hệ sinh thái, sinh kế, năng lực cộng đồng và nhu cầu thị trường của từng địa bàn.

Theo PGS.TS Đào Thế Anh, chứng nhận giúp xác minh sự phù hợp với tiêu chuẩn và mở đường tiếp cận thị trường, nhưng việc phát triển hữu cơ còn tạo ra những giá trị khác cần được đánh giá đầy đủ: sức khỏe đất, đa dạng sinh học, tuần hoàn dinh dưỡng, giảm phụ thuộc đầu vào bên ngoài, khả năng chống chịu và năng lực tổ chức cộng đồng.

Ông liên hệ hướng phát triển này với Kế hoạch hành động quốc gia chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững. Bên cạnh quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi, cần quan tâm môi trường chính sách, dịch vụ hỗ trợ và những điều kiện để nông dân nhỏ tham gia được quá trình chuyển đổi.

Các đại biểu tham dự hội thảo.
Các đại biểu tham dự hội thảo.

Nông nghiệp sinh thái, hữu cơ có thể đóng góp đồng thời cho an ninh lương thực, dinh dưỡng, sinh kế, bảo vệ đất và nước, thích ứng biến đổi khí hậu, giảm phát thải, kết nối người tiêu dùng, cải thiện cảnh quan và tạo việc làm xanh. Văn hóa ẩm thực bản địa, lịch sử vùng sản xuất, thương hiệu và du lịch trải nghiệm cũng là những nguồn giá trị cần được đưa vào chiến lược phát triển.

Từ góc nhìn đó, ông đề xuất chuyển từ cách tiếp cận từng sản phẩm, thửa ruộng sang hệ thống sản xuất và cảnh quan; từ mô hình đơn lẻ sang vùng chuyển đổi; từ từng hộ riêng biệt sang cộng đồng có năng lực tổ chức, học hỏi và cùng chịu trách nhiệm. Chính sách cần hỗ trợ cả quá trình chuyển đổi, bởi người nông dân phải trải qua thời gian thay đổi kỹ thuật, xây dựng hồ sơ, kiểm soát chất lượng và hình thành quan hệ thị trường.

Hệ thống bảo đảm có sự tham gia (PGS) được ông nhìn nhận như một cơ chế kết nối nông dân, người tiêu dùng và các bên liên quan thông qua thống nhất tiêu chí, thăm đồng, đánh giá ngang hàng, chia sẻ tri thức và hỗ trợ cải tiến. Phát triển PGS cần bảo đảm quy trình minh bạch, trách nhiệm rõ ràng và phù hợp với yêu cầu của thị trường mà người sản xuất hướng tới.

Các ưu tiên được đề xuất gồm xác định vùng có tiềm năng sản xuất sinh thái, hữu cơ; nâng cao năng lực hợp tác xã, tổ nhóm; xây dựng bản đồ số và cơ sở dữ liệu; kết nối khuyến nông, nghiên cứu, tài chính chuyển đổi với tiêu thụ. Ông cũng nhấn mạnh vai trò của mạng lưới tri thức, huy động kinh nghiệm từ nông dân, doanh nghiệp, nhà khoa học và các trường đại học để chia sẻ những giải pháp phù hợp từng vùng.

TS Lê Mai Nhất, Trưởng phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, Viện Bảo vệ thực vật, trình bày các giải pháp quản lý sinh vật hại gắn với bảo vệ thiên địch và duy trì cân bằng sinh thái.
TS Lê Mai Nhất, Trưởng phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, Viện Bảo vệ thực vật, trình bày các giải pháp quản lý sinh vật hại gắn với bảo vệ thiên địch và duy trì cân bằng sinh thái.

Bảo vệ thực vật phải bắt đầu từ sức khỏe hệ sinh thái

Ở góc độ kỹ thuật, TS Lê Mai Nhất, Trưởng phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, Viện Bảo vệ thực vật đã đưa ra những tình huống cho thấy, người làm hữu cơ phải đối mặt với áp lực sinh vật hại rất cụ thể. Các đợt châu chấu gây hại từ vùng rừng tre, nứa lan xuống lúa và rau màu, hay tuyến trùng gây hại lúa, đòi hỏi phải hiểu đúng đối tượng, điều kiện phát sinh và cơ chế quản lý.

Theo ông Nhất, kinh nghiệm sản xuất có giá trị nhưng cần được cập nhật bằng kiến thức khoa học. Ngay cả kỹ thuật tưởng chừng đơn giản như phối trộn phân hữu cơ với đất trước khi đặt cây cũng có thể bị thực hiện sai. Vì vậy, đào tạo phải đi vào thao tác thực tế, giúp người sản xuất nhận diện nguyên nhân và thay đổi cách làm.

TS Lê Mai Nhất cũng lưu ý tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật có thể làm gia tăng tính kháng, ảnh hưởng thiên địch và khiến sinh vật hại tiếp tục bùng phát. Tư duy quản lý cần chuyển sang chủ động phòng ngừa, duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ đất và cây khỏe. Việc lựa chọn một sản phẩm được giới thiệu là “sinh học” cũng phải dựa trên thành phần, đặc tính và điều kiện sử dụng theo tiêu chuẩn hữu cơ, thay vì chỉ nhìn tên gọi trên bao bì.

Nhóm giải pháp được TS Lê Mai Nhất trình bày bao gồm sử dụng giống chống chịu, giống bản địa phù hợp; luân canh, xen canh; thiết lập bờ hoa, hàng rào sinh học để bảo tồn và dẫn dụ thiên địch; ứng dụng vi sinh vật đối kháng, nấm ký sinh côn trùng, bẫy pheromone và các biện pháp cơ học. Ông giới thiệu những hướng ứng dụng ong ký sinh, bọ rùa, nhện và bọ xít bắt mồi, cùng tuyến trùng ký sinh côn trùng trong quản lý một số nhóm sâu hại.

Các biện pháp phải được lựa chọn theo cây trồng, đối tượng gây hại và điều kiện đồng ruộng. Bờ hoa cần có chức năng sinh thái phù hợp; làm đất tối thiểu hay luân canh cũng không thể áp dụng giống nhau cho mọi loại cây, nhất là giữa cây lâu năm và rau ngắn ngày.

Quản lý sức khỏe đất là nền tảng của hệ thống này, thông qua tăng che phủ, giảm xáo trộn bất hợp lý, đa dạng sinh học và duy trì rễ sống. Kết hợp quản lý nước, dinh dưỡng, cảm biến và thông tin dự báo sẽ giúp phát hiện sớm rủi ro, xử lý có mục tiêu và sử dụng hiệu quả nguồn lực sản xuất.

Bà Từ Thị Tuyết Nhung, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tiêu chuẩn VOAA, nhấn mạnh việc tuân thủ tiêu chuẩn và kiểm soát vật tư đầu vào trong sản xuất hữu cơ.
Bà Từ Thị Tuyết Nhung, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tiêu chuẩn VOAA, nhấn mạnh việc tuân thủ tiêu chuẩn và kiểm soát vật tư đầu vào trong sản xuất hữu cơ.

Tiêu chuẩn phải chú trọng từng đầu vào, quy trình và nhãn sản phẩm

Tiếp nối phần kỹ thuật, bà Từ Thị Tuyết Nhung, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tiêu chuẩn VOAA, phân tích những yêu cầu để thúc đẩy sản xuất hữu cơ từ góc độ tiêu chuẩn và quản lý chất lượng. Bà Nhung cho rằng hệ thống chính sách, tiêu chuẩn đã từng bước hình thành, nhưng năng lực sản xuất, chế biến, truy xuất và phát triển thị trường còn hạn chế; chi phí chứng nhận và rủi ro chuyển đổi vẫn là rào cản đối với nhiều chủ thể.

“Làm nông nghiệp hữu cơ là phải làm theo tiêu chuẩn”, chuyên gia Từ Thị Tuyết Nhung nhấn mạnh. Trước khi triển khai, người sản xuất cần xác định sản phẩm, thị trường, lựa chọn và đọc hiểu tiêu chuẩn; rà soát điều kiện đất, nước, môi trường xung quanh, nguồn vật tư, nguy cơ ô nhiễm chéo và khả năng phòng ngừa. Chiến lược quản lý sâu bệnh, cỏ dại, hồ sơ sản xuất và truy xuất cần được chuẩn bị từ đầu.

Đồng thời, Trưởng Ban Tiêu chuẩn VOAA cũng giới thiệu quá trình phát triển tiêu chuẩn của Hiệp hội từ nền tảng PGS Việt Nam. Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 01:2024/VOAA được công bố ngày 17/4/2024, gồm 10 phần, 60 trang; đến tháng 5/2025 được công nhận trong Gia đình tiêu chuẩn IFOAM. Nội dung bao quát quản lý chung, trồng trọt, thu hái tự nhiên, nấm và rau mầm, chăn nuôi, nuôi ong, xử lý và chế biến, công bằng xã hội cùng các yêu cầu về đầu vào.

Đặc biệt, phần hướng dẫn đánh giá đầu vào xem xét tính cần thiết và giải pháp thay thế; nguồn gốc, quy trình sản xuất; tác động môi trường; sức khỏe con người, an toàn thực phẩm; các khía cạnh xã hội, kinh tế và đạo đức. Cơ sở sản xuất vật tư cần minh bạch thành phần, tỷ lệ, nguồn nguyên liệu, hồ sơ truy xuất và kết quả thử nghiệm để phục vụ đánh giá.

Theo bà Nhung, một loại phân bón đã có quyết định lưu hành vẫn cần được đối chiếu với yêu cầu của tiêu chuẩn hữu cơ áp dụng. Việc đánh giá phải xem đến từng chất, phương thức sản xuất, các yếu tố có nguy cơ tích tụ và điều kiện sử dụng. Nhu cầu thực tế của nông dân là có thông tin về những sản phẩm thương mại cụ thể phù hợp, để có thể lựa chọn và sử dụng đúng.

Bà cũng phân biệt việc thực hành theo tiêu chuẩn, giai đoạn chuyển đổi và sản phẩm được xác nhận hữu cơ. Ghi nhãn phải gắn với quá trình đánh giá, công nhận và quy định của hệ thống tiêu chuẩn. Hiệp hội đang tiếp tục hoàn thiện chương trình quản lý nhãn, cơ chế đánh giá vật tư và phối hợp với các tổ chức đủ điều kiện, nhằm tăng tính nhất quán và niềm tin.

Trở lại vấn đề này trong phiên thảo luận cuối ngày, bà Từ Thị Tuyết Nhung cho biết việc xây dựng thông tin vật tư đầu vào đòi hỏi sự tư vấn của các cơ quan chuyên môn và đối chiếu cả quy chuẩn trong nước lẫn yêu cầu thị trường. Ngay với phân ủ tại chỗ, nhóm sản xuất cũng cần quan tâm dinh dưỡng, tạp chất và kết quả kiểm nghiệm, để kiểm soát chất lượng sử dụng trong hệ thống.

Ông Ngô Minh Hải, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn TH, chia sẻ hành trình phát triển nông nghiệp hữu cơ gắn với công nghệ, chuỗi sản xuất khép kín và trách nhiệm với cộng đồng.
Ông Ngô Minh Hải, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn TH, chia sẻ hành trình phát triển nông nghiệp hữu cơ gắn với công nghệ, chuỗi sản xuất khép kín và trách nhiệm với cộng đồng.

Tập đoàn TH: Phát triển hữu cơ trong chuỗi sản xuất khép kín

Từ thực tiễn của một doanh nghiệp tiên phong trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ, ông Ngô Minh Hải, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn TH, chia sẻ hành trình doanh nghiệp lựa chọn và phát triển nông nghiệp hữu cơ. Ông cho biết lựa chọn này gắn với triết lý “Trân quý Mẹ Thiên nhiên”, sản xuất thực phẩm từ thiên nhiên và phụng sự sức khỏe cộng đồng do Nhà sáng lập Thái Hương khởi xướng.

Từ dự án chăn nuôi bò sữa, chế biến sữa tập trung công nghệ cao có tổng vốn đầu tư 1,2 tỷ USD tại Nghệ An khởi công năm 2009, TH từng bước kết hợp công nghệ, khoa học quản trị với định hướng phát triển bền vững. Hành trình hữu cơ được doanh nghiệp triển khai từ cánh đồng nguyên liệu thức ăn đến đàn bò, quy trình chăn nuôi và sản phẩm.

Ngày 17/12/2015, TH hợp tác với Control Union để thực hiện quy trình sản xuất sữa hữu cơ, chuyển đổi vùng nguyên liệu theo yêu cầu tiêu chuẩn. Tháng 4/2017, quy trình chăn nuôi và chuỗi sản xuất của đàn bò chuyển đổi được xác nhận đạt tiêu chuẩn hữu cơ châu Âu.

Thông tin tại hội thảo, Tập đoàn TH giới thiệu đàn bò hữu cơ có quy mô khoảng 1.000 con, năng suất sữa trung bình xấp xỉ 33 lít mỗi con mỗi ngày, cung cấp hơn 3 triệu lít sữa tươi hữu cơ nguyên liệu mỗi năm. Quy trình chú trọng kiểm soát thức ăn, các thành phần không phù hợp với tiêu chuẩn, chăm sóc thú y và phúc lợi động vật. Nguồn sữa hữu cơ được sử dụng cho dòng sản phẩm TH true MILK công thức TOPKID.

TH cũng mở rộng sang rau quả, dược liệu hữu cơ. Thương hiệu FVF được giới thiệu với 79 sản phẩm rau củ quả có chứng nhận theo tiêu chuẩn Mỹ và châu Âu, sản lượng tối đa có thể đạt 400 tấn mỗi năm. Sản phẩm được phân phối qua hệ thống TH true mart, gắn mã vạch, mã QR phục vụ truy xuất nguồn gốc.

Ở lĩnh vực dược liệu, doanh nghiệp phát triển gấc, tía tô, gừng, nhân trần, cúc hoa vàng và các loại cây khác tại Nghệ An, tạo nguyên liệu cho trà, đồ uống và sản phẩm mang thương hiệu TH true HERBAL. Phụ phẩm hữu cơ từ trang trại bò sữa được xử lý bằng công nghệ ủ hiếu khí để sản xuất phân bón Greenma, kết nối thêm một mắt xích trong hướng phát triển tuần hoàn.

Chủ tịch HĐQT Tập đoàn TH Ngô Minh Hải cho biết, Tập đoàn TH đã xây dựng hệ sinh thái hơn 200 sản phẩm thực phẩm sạch, trong đó có các sản phẩm sử dụng nguyên liệu hữu cơ. Chiến lược bền vững được doanh nghiệp triển khai qua sáu trụ cột: dinh dưỡng và sức khỏe, môi trường, giáo dục, con người, cộng đồng, phúc lợi động vật. Từ thực tiễn doanh nghiệp, ông bày tỏ kỳ vọng sự phối hợp giữa Hiệp hội, doanh nghiệp, người nông dân và xã hội sẽ tạo thêm điều kiện phát triển hữu cơ trong giai đoạn 2026 - 2030.

Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Giám đốc sản xuất mảng nông nghiệp Công ty Cổ phần Nông nghiệp BAF Việt Nam, giới thiệu mô hình kết nối chăn nuôi với trồng trọt theo hướng tuần hoàn tài nguyên.
Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Giám đốc sản xuất mảng nông nghiệp Công ty Cổ phần Nông nghiệp BAF Việt Nam, giới thiệu mô hình kết nối chăn nuôi với trồng trọt theo hướng tuần hoàn tài nguyên.

BAF: Kiểm soát dòng tài nguyên trước khi mở rộng mô hình tuần hoàn

Cũng tại hội thảo, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Giám đốc sản xuất mảng nông nghiệp Công ty Cổ phần Nông nghiệp BAF Việt Nam, trình bày hướng kết nối chăn nuôi với trồng trọt thông qua thu hồi, xử lý và tái sử dụng các dòng tài nguyên. Mục tiêu là sử dụng hiệu quả đầu vào, quản trị chi phí và kiểm soát rủi ro môi trường ngay từ thiết kế hệ thống.

Quy trình được giới thiệu gồm thu gom, phân tách phần rắn và lỏng; thu hồi khí sinh học làm năng lượng; xử lý phần rắn để sản xuất phân bón; đánh giá phần lỏng sau xử lý trước khi tái sử dụng; kết nối với vùng nguyên liệu. Theo đại diện doanh nghiệp, công nghệ ủ hiếu khí, vi sinh và hệ thống xử lý cần đi cùng phân tích chất lượng, cân đối dinh dưỡng và giám sát điều kiện sử dụng.

Với phương châm “Heo nuôi ruộng, ruộng nuôi heo”, BAF hướng tới kết nối nguồn phụ phẩm chăn nuôi với nhu cầu dinh dưỡng cây trồng, đồng thời phát triển nguyên liệu phục vụ sản xuất. Ông Hùng cho biết, công ty đang triển khai gắn với các trang trại tại Quảng Trị, Tây Ninh, Nghệ An; kế hoạch trong năm 2026 là tám trang trại, hướng tới mở rộng lên 20 trang trại.

Việc triển khai bao gồm quy hoạch sử dụng đất, lập bản đồ lô thửa, kế hoạch cây trồng, thiết kế tưới tiêu, phân tích đất và nước, ghi chép hồ sơ, kiểm tra định kỳ. Tùy địa hình, vùng miền và mùa vụ, phương án có thể kết hợp ngô, sắn, chuối, tre, keo, rau quả hoặc dược liệu dưới tán. Liên kết với hợp tác xã, nông hộ và thị trường là điều kiện để vùng nguyên liệu vận hành ổn định.

Đại diện Công ty BAF nhấn mạnh, sử dụng phân bón từ phụ phẩm chăn nuôi chưa tự động tạo ra sản phẩm hữu cơ được chứng nhận. Hệ thống muốn chuyển đổi phải kiểm soát nguồn nguyên liệu, quy trình xử lý, thành phần, chất lượng, điều kiện sử dụng và đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn.

Ông Hùng đề xuất lộ trình từ thu hồi tài nguyên, kiểm soát chất lượng và tác động môi trường đến phát triển sinh thái, chuyển đổi hữu cơ khi đủ điều kiện. Năm nhóm điều kiện để nhân rộng gồm quy hoạch theo hệ thống; kiểm soát chất lượng đầu vào; liên kết vùng nguyên liệu và đầu ra; thống nhất dữ liệu, chỉ số đánh giá; bảo đảm đầu tư và chia sẻ rủi ro. BAF cũng gợi mở thí điểm hợp tác công tư với mục tiêu định lượng, giám sát và đánh giá trước khi mở rộng.

Ông Đoàn Tấn Đạt, Giám đốc HTX Tấn Đạt, chia sẻ kinh nghiệm tổ chức sản xuất lúa hữu cơ, liên kết tiêu thụ và nâng cao thu nhập cho nông dân.
Ông Đoàn Tấn Đạt, Giám đốc HTX Tấn Đạt, chia sẻ kinh nghiệm tổ chức sản xuất lúa hữu cơ, liên kết tiêu thụ và nâng cao thu nhập cho nông dân.

Tấn Đạt: Hiệu quả liên kết phải được đo bằng thu nhập nông dân

Từ thực tiễn sản xuất lúa gạo, ông Đoàn Tấn Đạt, Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất Dịch vụ Nông nghiệp Tấn Đạt, đặt trọng tâm vào tổ chức vùng nguyên liệu và chia sẻ trách nhiệm giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp. Ông Đạt cho biết hành trình nghiên cứu, tìm hướng sản xuất đã được ông Đoàn Văn Tài khởi đầu từ năm 2010; hợp tác xã chính thức thành lập năm 2017, đạt chứng nhận hữu cơ Mỹ năm 2019, sau đó tiếp cận các chứng nhận của những thị trường khác.

Trình bày tham luận tại hội thảo, ông Đạt cho biết hiện đơn vị có 85 thành viên chính thức, khoảng 500 thành viên liên kết; quy mô quản lý, liên kết sản xuất khoảng 200 ha, trong đó 30 ha được chứng nhận hữu cơ. Việc tổ chức vùng trồng đòi hỏi kiểm soát đầu vào, thống nhất kỹ thuật, ghi nhật ký, đánh giá nội bộ và duy trì truy xuất qua từng mùa vụ.

Giám đốc HTX Tấn Đạt cho rằng doanh nghiệp cần tham gia từ trước khi xuống giống, xác định nhu cầu sản phẩm, tiêu chuẩn, sản lượng và lịch giao hàng. Hợp tác xã làm hạt nhân tập hợp nông dân, tổ chức mùa vụ, quản lý chất lượng và kết nối thu mua. Người sản xuất thực hiện đúng quy trình, hồ sơ và cam kết cung ứng. Sự phối hợp này phải gắn với cách xác định giá, thanh toán và phương án chia sẻ rủi ro.

Bốn khó khăn được nêu gồm chi phí chuyển đổi, tái chứng nhận; năng lực tuân thủ chưa đồng đều; liên kết tiêu thụ thiếu ổn định; hạn chế vốn và hạ tầng, nhất là yêu cầu quản lý nước cấp, thoát nước. Ông dẫn trường hợp chi phí tái đánh giá chứng nhận quốc tế khoảng 130 triệu đồng cho 30 ha mỗi năm, cho thấy áp lực duy trì hệ thống đối với hợp tác xã.

Giải pháp của Tấn Đạt tập trung vào năm hướng: quy hoạch vùng nguyên liệu theo thị trường; nâng cao quản trị, kiểm soát chất lượng và tài chính; xây dựng hợp đồng liên kết thực chất; phát triển chế biến, bảo quản và tận dụng phụ phẩm; số hóa để theo dõi hiệu quả. Rơm rạ, trấu, cám có thể được lựa chọn sử dụng phù hợp để tăng giá trị, đồng thời từng bước nghiên cứu cơ hội từ giảm phát thải và thị trường carbon.

Hợp tác xã kiến nghị Hiệp hội tăng kết nối doanh nghiệp tiêu thụ, hướng dẫn lộ trình chuyển đổi và xây dựng mô hình điểm. Nhà nước cần hỗ trợ đào tạo, kiểm nghiệm, chứng nhận, vốn, thủy lợi và hạ tầng; doanh nghiệp đồng hành từ đầu vụ, thực hiện cam kết và chia sẻ giá trị gia tăng.

Đồng thời, HTX Tấn Đạt cũng gợi mở việc theo dõi giá thành theo mùa vụ, tính cả công lao động gia đình, gắn hợp đồng thu mua với cơ chế chia sẻ rủi ro giá và hỗ trợ vốn, bảo quản. Hiệu quả của mô hình cần được nhìn qua lợi nhuận thực nhận, chất lượng, độ ổn định đầu ra và khả năng duy trì sản xuất của nông dân.

Trong phần hỏi đáp, ông Đoàn Tấn Đạt cho biết HTX Tấn Đạt phân phối lợi nhuận theo cơ chế 51% gắn với mức độ sử dụng dịch vụ, đóng góp và 49% theo vốn góp. Thông điệp xuyên suốt là sản xuất hữu cơ phải gắn với thu nhập hợp lý của nông dân, năng lực quản trị của hợp tác xã và đầu ra ổn định.

Bà Nguyễn Hằng Nga, Phó Tổng giám đốc Công ty DACE, chia sẻ kinh nghiệm phát triển vùng gia vị hữu cơ và kiểm soát chất lượng đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.
Bà Nguyễn Hằng Nga, Phó Tổng giám đốc Công ty DACE, chia sẻ kinh nghiệm phát triển vùng gia vị hữu cơ và kiểm soát chất lượng đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.

DACE: Chứng nhận đi cùng kiểm soát từng lô hàng

Mở đầu phần tham luận buổi chiều, bà Nguyễn Hằng Nga, Phó Tổng giám đốc Công ty DACE, chia sẻ kinh nghiệm phát triển gia vị hữu cơ gắn với yêu cầu của nhà mua hàng quốc tế. Theo bà Nga, từ vùng nguyên liệu nhỏ ban đầu tại Cao Bằng, doanh nghiệp đã phát triển hơn 2.300 ha có chứng nhận hữu cơ, liên kết với hơn 3.000 hộ nông dân; khoảng 90% hộ trong chuỗi được tập huấn hằng năm.

DACE cho biết sản phẩm đã đến bốn châu lục, tập trung vào châu Âu và Mỹ, trong đó châu Âu chiếm khoảng 65% sản lượng xuất khẩu. Doanh nghiệp tiếp cận các chứng nhận hữu cơ phù hợp từng thị trường, cùng những yêu cầu bổ sung như thương mại công bằng, Naturland và Bio Suisse.

Theo Phó Tổng giám đốc Công ty DACE, người mua quan tâm đồng thời chất lượng, an toàn thực phẩm, kiểm soát dư lượng, năng lực giao hàng, nguồn gốc minh bạch và sự ổn định giữa các lô. Một khách hàng có thể yêu cầu thêm tiêu chuẩn riêng cao hơn mức cơ bản của thị trường. Vì vậy, doanh nghiệp phải hiểu rõ cả nghĩa vụ chung lẫn điều kiện thương mại cụ thể trong hợp đồng.

Bà Nga nêu ví dụ các yêu cầu về vi sinh, kim loại nặng, dư lượng và truy xuất. Cùng một chỉ tiêu, ngưỡng chấp nhận có thể khác nhau giữa các nhà mua hàng. Chứng nhận vùng trồng vì thế phải đi cùng kiểm soát suốt quá trình thu hoạch, vận chuyển, sấy, chế biến và đóng gói, nơi nguy cơ ô nhiễm chéo vẫn có thể phát sinh.

Chia sẻ trong phần trao đổi thảo luận, bà Nga cho biết một lô hàng của DACE có thể phải trải qua ít nhất ba lần kiểm nghiệm: tại vùng nguyên liệu, sau sản xuất ở nhà máy và theo yêu cầu của khách hàng hoặc phòng thử nghiệm do khách hàng lựa chọn.

DACE ứng dụng công nghệ quản lý vùng trồng, mã QR và hồ sơ lô hàng để kết nối nông hộ, cán bộ kỹ thuật, nhà máy, kiểm soát chất lượng với bộ phận thị trường. Doanh nghiệp đề cao việc các thành viên trong chuỗi hiểu cùng một yêu cầu chất lượng; hỗ trợ phân tích đất, tập huấn canh tác, ủ phân compost, xây dựng kỹ thuật viên tại chỗ và tăng sự tham gia của phụ nữ.

Đồng thời, Phó Tổng giám đốc Nguyễn Hằng Nga kiến nghị cơ quan quản lý tăng kiểm soát việc kinh doanh các loại thuốc bảo vệ thực vật đã bị cấm, đồng thời chia sẻ dữ liệu vùng trồng để doanh nghiệp thuận lợi tổ chức nguyên liệu. DACE cũng thông tin định hướng đầu tư nhà máy quy mô 8,6 ha tại Cao Bằng. Trao đổi thêm, TSKH. Hà Phúc Mịch nhấn mạnh năng lực đáp ứng quy mô đơn hàng và liên kết bền vững với nông dân là bài học cần được tổng kết, chia sẻ cho các doanh nghiệp.

Ông Thân Dỹ Ngữ, Giám đốc Công ty Hiệp Thành, đề xuất phát triển trà hữu cơ gắn với văn hóa bản địa, bảo tồn vùng nguyên liệu và xây dựng cộng đồng tiêu dùng.
Ông Thân Dỹ Ngữ, Giám đốc Công ty Hiệp Thành, đề xuất phát triển trà hữu cơ gắn với văn hóa bản địa, bảo tồn vùng nguyên liệu và xây dựng cộng đồng tiêu dùng.

Trà hữu cơ: Tạo giá trị từ vùng đất, văn hóa và cộng đồng

Tại hội thảo, ông Thân Dỹ Ngữ, Giám đốc Công ty Hiệp Thành, thành viên sáng lập Liên minh Trà đặc sản hữu cơ Việt Nam (VOSTEA), tiếp cận thị trường từ câu chuyện trà và văn hóa bản địa. Theo ông Ngữ, Việt Nam có nhiều vùng trà chất lượng, nền văn hóa thưởng trà lâu đời và nguồn gen đa dạng, nhưng việc chuyển những lợi thế ấy thành giá trị thương mại còn hạn chế.

Một nghịch lý được Giám đốc Công ty Hiệp Thành nêu là sản lượng và lượng xuất khẩu lớn nhưng giá bán bình quân nguyên liệu còn thấp, người trồng trà quy mô nhỏ có thu nhập hạn chế. Trong khi đó, thị trường nội địa, phân khúc đặc sản và hữu cơ có thể tạo thêm giá trị nếu người mua được tiếp cận thông tin minh bạch về vùng trà, người làm trà và phương thức chế biến.

Ông Ngữ cho biết Việt Nam có khoảng 15.000 ha trà Shan rừng, phần lớn ở vùng núi cao, cùng ít nhất 50 vùng trà có đặc tính riêng để phát triển sản phẩm gắn với thổ nhưỡng và chỉ dẫn nguồn gốc. Chuyển đổi hữu cơ cần đi cùng bảo tồn nguồn gen, chăm sóc cây cổ thụ và tổ chức lại chuỗi cung ứng, để việc khai thác không làm suy giảm tài nguyên.

Các thách thức được đề cập gồm vườn trà nhỏ, phân tán; thiếu lao động; hạn chế vốn, nhân lực của cơ sở chế biến; chi phí tổ chức nông hộ và truy xuất; tác động biến đổi khí hậu; cạnh tranh thị trường. Sản xuất nguyên liệu chất lượng cao cần một quan hệ hợp tác đủ bền để người nông dân có động lực thực hiện quy trình và người chế biến chủ động đầu tư.

Doanh nghiệp cho biết, Hiệp Thành hiện hợp tác với khoảng 2.000 hộ gia đình thông qua tổ nhóm, hợp tác xã; phát triển khoảng 3.000 ha canh tác hữu cơ gồm trà, gia vị và thảo dược. Đơn vị kết hợp chứng nhận, thương mại công bằng, xây dựng đối tác bản địa, sản xuất phân ủ tại chỗ và đầu tư chế biến, phát triển những dòng sản phẩm khác nhau.

Thông qua VOSTEA, các nhà sản xuất hướng tới cùng giới thiệu vùng trà, nghệ nhân, chia sẻ tri thức và tiếp cận thị trường. Những mô hình đại sứ trà, điểm giới thiệu sản phẩm, Vietnam Organic House, du lịch vùng trà, phố trà và phiên chợ trà được ông Ngữ trình bày như cách gắn sản phẩm với văn hóa, trải nghiệm và cộng đồng tiêu dùng. Ông đề xuất VOAA tổ chức hoạt động hội chợ, phiên chợ hữu cơ thường niên để tăng kết nối trực tiếp.

Trao đổi về tiềm năng của trà Thái Nguyên, GS.TS Đào Thanh Vân đặt vấn đề phát triển diện tích hữu cơ, tạo sự khác biệt và kết nối với các hoạt động quảng bá vùng trà. Ông Ngữ cho biết đã phối hợp hình thành câu lạc bộ trà hữu cơ tại địa phương, hướng tới điểm giới thiệu và mở rộng trải nghiệm thưởng trà. Những trao đổi cho thấy phát triển hữu cơ phải gắn với câu chuyện vùng nguyên liệu và cách đưa giá trị ấy đến người mua.

Ông Doãn Đình Chúc, Giám đốc công nghệ CheckVN, giới thiệu giải pháp số hóa nhật ký sản xuất, quản lý lô thửa và truy xuất nguồn gốc nông sản hữu cơ.
Ông Doãn Đình Chúc, Giám đốc công nghệ CheckVN, giới thiệu giải pháp số hóa nhật ký sản xuất, quản lý lô thửa và truy xuất nguồn gốc nông sản hữu cơ.

Chuyển đổi số phải giải quyết công việc hằng ngày của nông dân

Tham luận của ông Doãn Đình Chúc, Giám đốc công nghệ CheckVN, tập trung vào dữ liệu sản xuất và khả năng truy xuất từ đồng ruộng. Ông cho rằng hệ thống cần trả lời được năm câu hỏi: ai làm, làm gì, ở đâu, khi nào và bao nhiêu. Với hữu cơ, minh chứng về quy trình, vị trí, hình ảnh và nhật ký là nền tảng để quản lý, kiểm tra và đánh giá.

Giải pháp được giới thiệu bắt đầu bằng định danh từng thửa đất, lô canh tác, gắn mã QR với thông tin vị trí, diện tích, cây trồng, vùng đệm, nguồn nước và hồ sơ liên quan. Người nông dân dùng điện thoại cập nhật công việc, lựa chọn các thao tác có sẵn, ghi nhận hình ảnh và dữ liệu đầu vào.

Theo Giám đốc công nghệ CheckVN, công nghệ có thể hỗ trợ nhập liệu bằng giọng nói, gợi ý công việc, đối chiếu tọa độ của ảnh với vị trí thửa đất và cảnh báo sai lệch. Nhật ký đầu vào cũng giúp theo dõi lượng phân bón, dinh dưỡng, phục vụ đối chiếu yêu cầu kỹ thuật được cấu hình. Hệ thống phân quyền để lựa chọn thông tin công khai cho người tiêu dùng và dữ liệu nội bộ của đơn vị sản xuất.

CheckVN cho biết đã đồng hành với các nhóm PGS và triển khai thử nghiệm tại một số cơ sở, trong đó có mô hình ở Sơn La. Việc số hóa hướng tới giảm thời gian tổng hợp hồ sơ, giúp các bên đánh giá tiếp cận dữ liệu theo biểu mẫu và tăng khả năng kiểm tra chéo.

Phần hỏi đáp đặt ra những tình huống rất sát với sản xuất nhỏ. Ông Trần Mạnh Chiến, đại diện mạng lưới Bác Tôm và PGS, nêu khó khăn khi một luống xen canh nhiều loại rau phải ghi chép lặp lại, đồng thời hỏi về kết nối dữ liệu thời gian thực với hệ thống quản trị, kế toán và vận hành của doanh nghiệp.

Đại diện CheckVN giải thích khi quét mã thửa đất, người dùng có thể chọn đồng thời nhiều cây trồng để ghi một nhật ký chung phù hợp công việc thực tế. Khả năng truyền dữ liệu qua giao diện kết nối được hệ thống hỗ trợ, song thời điểm cập nhật còn phụ thuộc sóng mạng và điều kiện làm việc của nông dân.

Với băn khoăn phải ghi ngay ngoài đồng hay có thể nhập buổi tối, ông Chúc cho biết có thể cập nhật sau công việc; ảnh minh chứng lưu mốc thời gian chụp để hỗ trợ đối chiếu. Các ý kiến cũng đề cập dữ liệu theo từng lớp cây trồng, cảm biến và công cụ hỗ trợ nhập liệu. Yêu cầu chung là công nghệ phải làm việc ghi chép thuận tiện, hữu ích cho quản trị và đủ tin cậy để phục vụ truy xuất.

Bà Phạm Thị Bích Thủy, đồng sáng lập Công ty Cổ phần Thế giới Hạt dưỡng, thương hiệu HANUTIÔng Trần Mạnh Chiến - nhà sáng lập, Tổng Giám đốc Chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch Bác TômÔng Nguyễn Mạnh Hùng, Giám đốc sản xuất mảng nông nghiệp Công ty Cổ phần Nông nghiệp BAF Việt NamTS Trần Thị Thanh Bình, Giám đốc Trung tâm Nông nghiệp hữu cơ, Trường Đại học Lâm nghiệpBà Đặng Thị Thúy, Quản lý Dự án KVP, đại diện Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Đức - Naturland tại Việt NamÔng Ngô Văn Nghị, GĐ HTX Trung NAPGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam.Ông Nguyễn Văn Lưu, Tổng Giám đốc Công ty Nông nghiệp Công nghệ cao Đồng Tâm.TS Lê Mai Nhất, Trưởng phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, Viện Bảo vệ thực vật.Ông Nguyễn Văn Phi, chủ trang trại nhãn tại Hưng Yên.Ông Đoàn Tấn Đạt, Giám đốc HTX Tấn Đạt.Nhà giáo Nhân dân, TS Phạm Thanh Hải.Tiến sĩ Lê Thị Thúy Hằng, Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam.Ông Trịnh Văn Hải, Giám đốc Công ty Cổ phần HTH Trường Phát.

Những câu hỏi từ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp

Xuyên suốt các phiên trao đổi, nhiều đại biểu đưa ra những vướng mắc mà tham luận chuyên môn cần tiếp tục giải quyết ở cấp độ vận hành. Các câu hỏi về giá thành, nguồn vật tư, ghi chép, chứng nhận, chia lợi nhuận và duy trì hợp đồng cho thấy sản xuất hữu cơ đòi hỏi sự phối hợp thường xuyên giữa các chủ thể.

Ông Nguyễn Văn Phi, chủ trang trại nhãn tại Hưng Yên, chia sẻ quá trình nghiên cứu chế phẩm thảo mộc và tự kiểm nghiệm sản phẩm. Từ câu chuyện này, các ý kiến lưu ý nhu cầu đánh giá khoa học đối với vật tư, bởi nguồn gốc tự nhiên cần được xem xét cùng thành phần, đặc tính và điều kiện sử dụng. Ông Trần Mạnh Chiến đề nghị thận trọng với cách hiểu về tính an toàn của các chất tự nhiên; PGS.TS Đào Thế Anh nhấn mạnh phải điều hòa hệ sinh thái, giảm lệ thuộc vào tư duy chỉ thay một loại thuốc phun bằng loại khác.

Đại biểu trong lĩnh vực chăn nuôi phân tích khó khăn của chăn nuôi hữu cơ, đặc biệt với lợn, từ nguồn thức ăn đến thuốc thú y và phúc lợi động vật. Ý kiến đề nghị nghiên cứu cách hướng dẫn, tổ chức thực hiện phù hợp với từng quy mô, tăng liên kết giữa người sản xuất, nhà khoa học và các chủ thể hoạch định, hỗ trợ phát triển.

Đại diện Hợp tác xã Thanh Xuân đặt câu hỏi về hỗ trợ vùng sản xuất, kỹ thuật bờ hoa, làm đất và tiếp cận phân bón. Trong phần giải đáp, các diễn giả tiếp tục nhấn mạnh việc lựa chọn biện pháp theo đối tượng cây trồng; đại diện BAF cho biết nguồn phân bón của doanh nghiệp đang ưu tiên hỗ trợ các nông hộ liên kết vùng nguyên liệu quanh trang trại.

Về liên kết, ông Nguyễn Văn Lưu, Tổng Giám đốc Công ty Nông nghiệp Công nghệ cao Đồng Tâm, chia sẻ áp lực khi đã đầu tư, ứng vốn nhưng hợp đồng có nguy cơ bị phá vỡ. Câu chuyện đặt ra yêu cầu thỏa thuận minh bạch, trách nhiệm hai chiều và cơ chế chia sẻ rủi ro, để cả doanh nghiệp lẫn người sản xuất có thể gắn bó lâu dài. Các đại biểu cũng quan tâm những quy định, điều kiện tiếp cận thị trường xuất khẩu và việc hướng dẫn cụ thể cho doanh nghiệp nhỏ.

Đào tạo được nhiều người xem là một khoản đầu tư cần duy trì trong suốt chuỗi sản xuất. Bà Phạm Thị Bích Thủy, đồng sáng lập Công ty Cổ phần Thế giới Hạt Dưỡng (HANUTI), đề xuất tập trung vào nhóm ba đến năm hộ hạt nhân, xây dựng mô hình làm được, sau đó lan tỏa, đồng thời nâng năng lực đội ngũ quản trị hợp tác xã. Cách làm này hướng tới gắn tập huấn với người hướng dẫn tại chỗ, thực hành và theo dõi kết quả.

Nhà giáo Nhân dân, TS Phạm Thanh Hải nêu quan điểm chất lượng tổ chức phụ thuộc chất lượng đội ngũ, cần xây dựng “tổ chức học tập”. Ông giới thiệu cách kết hợp học qua tập huấn, đồng nghiệp và công việc theo khung 10 - 20 - 70, đồng thời chú trọng truyền cảm hứng, thái độ và khoa học hành vi khi vận động nông dân thay đổi phương thức sản xuất.

TS Trần Thị Thanh Bình, Giám đốc Trung tâm Nông nghiệp hữu cơ, Trường Đại học Lâm nghiệp, chia sẻ kinh nghiệm PGS dựa vào sự tham gia, giám sát chéo và trách nhiệm cộng đồng để giảm gánh nặng chi phí cho người sản xuất nhỏ. Bà Bình đề xuất VOAA thúc đẩy một hệ thống PGS ở tầm quốc gia, tăng kết nối và thống nhất giữa các nhóm.

Trong phiên tham vấn cuối ngày, đại diện Học viện Nông nghiệp Việt Nam tiếp tục đặt vấn đề vận động chính sách để làm rõ vị trí, cơ chế vận hành PGS; phối hợp xây dựng hệ thống đánh giá vật tư đầu vào; huy động chuyên gia tham gia đào tạo và hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, tiếp cận thị trường. Đây là các đề xuất được đưa ra để Hiệp hội nghiên cứu, tổng hợp.

Các đại biểu trao đổi về vật tư đầu vào, tiêu chuẩn, chứng nhận và giải pháp mở rộng thị trường cho sản phẩm hữu cơ.
Các đại biểu trao đổi về vật tư đầu vào, tiêu chuẩn, chứng nhận và giải pháp mở rộng thị trường cho sản phẩm hữu cơ.

Xác định thị trường trước khi mở rộng sản xuất

Do thời gian có hạn, Ban tổ chức điều chỉnh phương án chia ba nhóm riêng thành thảo luận toàn thể lần lượt theo các chủ đề, kết hợp thu ý kiến bằng phiếu. Các nội dung tiêu chuẩn, vật tư, chứng nhận, thị trường và năng lực tổ chức được trao đổi đan xen, với yêu cầu tập trung vào giải pháp, kiến nghị có thể triển khai.

Ở nhóm vật tư đầu vào, các ý kiến đề nghị tăng quản lý chất lượng và nguyên liệu; hướng dẫn người sản xuất hiểu quy định, sử dụng và khai báo; xây dựng dữ liệu, quy trình; quy hoạch nguồn giống; kết nối nhà cung ứng, nhà sản xuất với người sử dụng. Nhu cầu có thông tin về những sản phẩm cụ thể được đánh giá phù hợp tiếp tục được nhấn mạnh.

Sang chủ đề thị trường, đại biểu đề xuất hỗ trợ chứng nhận, nhãn, truy xuất; truyền thông thường xuyên về quy trình, nguồn gốc, chất lượng và cách nhận biết sản phẩm. Đại diện một doanh nghiệp đang đầu tư vùng gừng, nghệ tại Hà Giang chia sẻ khó khăn khi chuyển đổi chưa đạt kết quả mong muốn, từ đó đề nghị chú trọng thay đổi nhận thức ngay ở người sản xuất và xây dựng thương hiệu hữu cơ Việt Nam.

Trao đổi với đại biểu, TSKH. Hà Phúc Mịch nhấn mạnh chuẩn bị chuyển đổi phải bắt đầu từ đào tạo những người trực tiếp tham gia. Thói quen canh tác hình thành qua nhiều năm cần được thay đổi bằng hiểu biết, thực hành và giám sát. Trong tổ chức sản xuất, cần xác định người mua, nhu cầu và phương thức tiêu thụ từ đầu, có doanh nghiệp đồng hành với nông dân.

“Thị trường hữu cơ còn rộng mở nhưng phải xác định thị trường trước khi vận động người ta làm nông nghiệp hữu cơ”, Chủ tịch Hiệp hội nhấn mạnh.

Đại diện Trà Việt Tú, Quảng Ninh, chia sẻ cách tìm hiểu sự khác biệt của sản phẩm, xác định nhóm khách hàng rồi mới triển khai chuyển đổi, đồng thời truyền thông thương hiệu trong suốt hành trình. Đơn vị cho biết đang hướng tới chứng nhận hữu cơ Nhật Bản; lựa chọn làm vùng lõi 15 ha, từng bước kiểm soát chất lượng và đầu ra trước khi mở rộng hợp tác với người dân. Cách tổ chức vùng nguyên liệu, liên kết đất đai và người lao động được xem là điều kiện để duy trì tính thống nhất của quy trình.

Ông Trịnh Văn Hải, Giám đốc Công ty Cổ phần HTH Trường Phát, chia sẻ quá trình doanh nghiệp phát triển chế phẩm từ quế, điều chỉnh cách tiếp cận khách hàng và tìm được đối tác phù hợp. Theo ông Hải, lượng cung ứng cho đối tác đạt khoảng 3.000 - 5.000 lít mỗi tháng. Bài học được chia sẻ là kiên trì, đánh giá lại cách làm và liên tục điều chỉnh, dựa trên giá trị sản phẩm cùng nhu cầu cụ thể của người mua.

Đại diện Công ty Cổ phần Thế giới Hạt Dưỡng đề xuất quy hoạch vùng trồng theo lợi thế cây bản địa, văn hóa và chất lượng đặc thù để tìm phân khúc phù hợp; đồng thời liên kết giữa các doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn và sản lượng. Đại diện Vườn Rừng kiến nghị hỗ trợ chế biến sâu, phát triển du lịch trải nghiệm hữu cơ, xây dựng gian hàng chung, ngày hội và kênh truyền thông giới thiệu sản phẩm hội viên.

Bà Vũ Lê Y Voan, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, Cố vấn cao cấp Chương trình Hỗ trợ rừng và trang trại (FFF).
Bà Vũ Lê Y Voan, Ủy viên BCH VOAA, Cố vấn cao cấp Chương trình Hỗ trợ rừng và trang trại (FFF/FAO) đề xuất tổ chức Organic Market thường niên và xây dựng cơ sở dữ liệu hội viên.

Đề xuất Organic Market và cơ sở dữ liệu hội viên

Từ các trao đổi, Bà Vũ Lê Y Voan, Ủy viên BCH VOAA, Cố vấn cao cấp Chương trình Hỗ trợ rừng và trang trại (FFF/FAO), đề xuất Hiệp hội xây dựng chiến lược thị trường với những hoạt động cụ thể hằng năm. Bà kêu gọi hội viên cùng hợp tác, chia sẻ, đóng góp xây dựng mạng lưới chung để tăng sức mạnh của cộng đồng hữu cơ.

Một hoạt động được bà gợi mở là Organic Market thường niên. Không gian này có thể kết hợp giới thiệu, giao dịch sản phẩm, truyền thông, chia sẻ kiến thức, trao đổi những nhu cầu về tiêu chuẩn, chứng nhận và đầu vào. Qua đó, sản phẩm của hội viên có thêm điểm tiếp cận người tiêu dùng, còn thương hiệu VOAA và từng đơn vị được xây dựng từ hoạt động thực tế.

Đề xuất thứ hai là hình thành cơ sở dữ liệu hội viên: ai sản xuất gì, diện tích đã có chứng nhận và đang chuyển đổi, sản lượng, nguồn hàng, năng lực cung ứng và định hướng thương mại. Hội viên cung cấp thông tin để Văn phòng Hiệp hội tổng hợp, chia sẻ, hỗ trợ các đơn vị biết khả năng của nhau và cùng kết nối thị trường.

Các đề xuất bổ sung cho hướng liên kết đã được nhắc đến trong nhiều tham luận: mỗi chủ thể cần phát huy chuyên môn, từ vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn, kỹ thuật, chế biến đến bán hàng; đồng thời có dữ liệu và cơ chế hợp tác để những năng lực ấy kết nối được với nhau.

Phát biểu kết luận hội thảo, TSKH. Hà Phúc Mịch nhấn mạnh yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn về vật tư đầu vào và đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp hữu cơ.
Phát biểu kết luận hội thảo, TSKH. Hà Phúc Mịch nhấn mạnh yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn về vật tư đầu vào và đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp hữu cơ.

Những điểm nghẽn được nhấn mạnh tại hội thảo

Phát biểu kết luận và bế mạc hội thảo, TSKH. Hà Phúc Mịch đánh giá cao tinh thần tham gia, những ý kiến thực tiễn và sự gắn bó của đại biểu trong cả ngày làm việc. Chủ tịch VOAA cho biết Hiệp hội đã lắng nghe, ghi nhận các trao đổi, đặc biệt những đề xuất liên quan tổ chức hoạt động, hỗ trợ hội viên và thúc đẩy phát triển lĩnh vực hữu cơ.

TSKH. Hà Phúc Mịch nhấn mạnh, điểm nghẽn lớn đối với mở rộng sản xuất hàng hóa hữu cơ là vật tư đầu vào. Điều người sản xuất cần là có thể xác định sản phẩm cụ thể của đơn vị nào phù hợp, được đánh giá ra sao và sử dụng trong điều kiện nào. Khi nhiều cơ sở vẫn phải tự tổ chức nguồn phân bón, vật tư, việc mở rộng quy mô và duy trì chất lượng ổn định gặp thêm khó khăn.

Với chăn nuôi, thách thức đầu vào còn nằm ở nguồn thức ăn đạt tiêu chuẩn. Trồng trọt hữu cơ chưa phát triển đủ quy mô sẽ ảnh hưởng khả năng cung ứng nguyên liệu cho chăn nuôi, đặc biệt đối với lợn và gia cầm. Đây là mối liên hệ cần được tính đến trong quy hoạch và phát triển chuỗi, cùng năng lực đầu tư của doanh nghiệp.

Các đại biểu tham dự hội thảo chụp ảnh lưu niệm, cùng hướng tới tăng cường liên kết và phát triển cộng đồng hữu cơ Việt Nam.
Các đại biểu tham dự hội thảo chụp ảnh lưu niệm, cùng hướng tới tăng cường liên kết và phát triển cộng đồng hữu cơ Việt Nam.

Điểm nghẽn thứ hai là nguồn nhân lực. Theo ông, chuẩn bị chuyển đổi không dừng ở việc học lý thuyết, mà phải hướng dẫn bằng mô hình, thực hành, hỗ trợ người lao động thành thạo kỹ thuật và tuân thủ quy trình. Đội ngũ cán bộ chuyên môn cũng cần được đào tạo, cập nhật kiến thức phù hợp với yêu cầu của nông nghiệp hữu cơ.

Nói về điều kiện chuyển đổi sản xuất thành công, Chủ tịch Hiệp hội nhấn mạnh: “Phải chuyển đổi từ con người trước”. Đào tạo và truyền thông vì vậy cần được đặt trong quá trình chuẩn bị, đồng hành và duy trì mô hình.

TSKH. Hà Phúc Mịch khẳng định Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam sẽ tiếp thu, tổng hợp đầy đủ ý kiến thành văn bản và gửi lại đại biểu. Những đề xuất về vật tư, tiêu chuẩn, thị trường, dữ liệu và đào tạo sẽ là cơ sở để tiếp tục phối hợp với các bên liên quan, kiến nghị giải pháp và xây dựng các hoạt động đồng hành cùng người sản xuất, doanh nghiệp trong chặng đường phát triển tiếp theo.

Một số hình ảnh tại hội thảo:

Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trườngThúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trườngThúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trườngThúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trườngThúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trườngThúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trườngThúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trườngThúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trườngThúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trườngThúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trườngThúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trường

VOAA hướng tới dấu mốc 15 năm đồng hành cùng nông nghiệp hữu cơ Việt Nam VOAA hướng tới dấu mốc 15 năm đồng hành cùng nông nghiệp hữu cơ Việt Nam

Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) dự kiến tổ chức Lễ kỷ niệm 15 năm thành lập, kết hợp Lễ Tôn vinh ...

VOAA tập huấn Tiêu chuẩn Hữu cơ: Chuẩn hóa nhận thức, minh bạch thực hành sản xuất VOAA tập huấn Tiêu chuẩn Hữu cơ: Chuẩn hóa nhận thức, minh bạch thực hành sản xuất

Ngày 27/3, tại Hà Nội, Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA) khai mạc lớp tập huấn Tiêu chuẩn Hữu cơ VOAA, nhằm ...

Xây dựng mạng lưới lãnh đạo tiên phong cho nông nghiệp sinh thái và hữu cơ Việt Nam Xây dựng mạng lưới lãnh đạo tiên phong cho nông nghiệp sinh thái và hữu cơ Việt Nam

Ngày 7/5, tại Hà Nội, Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ (AOLC) chính thức khai mạc với sự phối ...

Nông nghiệp hữu cơ không chỉ là kỹ thuật, mà là niềm tin và kỷ luật cộng đồng Nông nghiệp hữu cơ không chỉ là kỹ thuật, mà là niềm tin và kỷ luật cộng đồng

Sáng 10/5, trong khuôn khổ Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ (AOLC 2026), các học viên đã tham quan ...

Kết nối tiêu thụ, tạo động lực cho sản phẩm nông sản Tân Lạc Kết nối tiêu thụ, tạo động lực cho sản phẩm nông sản Tân Lạc

Ngày 3/8, đoàn công tác của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) đã khảo sát các vùng sản xuất, cơ sở chế ...

Bài liên quan

CÁC TIN BÀI KHÁC

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 3: Phân bón giả và cái giá phải trả của người nông dân

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 3: Phân bón giả và cái giá phải trả của người nông dân

Thị trường phân bón liên tiếp phát hiện các vụ sản xuất, kinh doanh hàng giả với quy mô lớn, cho thấy công tác kiểm soát chất lượng vật tư nông nghiệp cần được siết chặt. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến chi phí, năng suất và hiệu quả mùa vụ của người nông dân mà còn tác động đến uy tín của doanh nghiệp chân chính và tính minh bạch của thị trường.
Phụ nữ Bằng Lăng - Tự tin, sáng tạo, chung sức xây dựng nông nghiệp hữu cơ

Phụ nữ Bằng Lăng - Tự tin, sáng tạo, chung sức xây dựng nông nghiệp hữu cơ

Từ những nương cà phê không thuốc cỏ, những luống rau xanh nói không với hóa chất đến vai trò giữ bình yên thôn bản, phụ nữ thôn Bằng Lăng đang khẳng định hình ảnh người phụ nữ Tây Nguyên thời đại mới - tự chủ kinh tế và giữ màu xanh cho đất.
Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 2: Cần giải pháp đồng bộ

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 2: Cần giải pháp đồng bộ

Muốn ngăn chặn hiệu quả phân bón giả, phân bón kém chất lượng, không thể chỉ dừng ở việc phát hiện và xử phạt những vụ vi phạm riêng lẻ. Yêu cầu đặt ra là phải kiểm soát từ nguồn sản xuất, minh bạch chuỗi phân phối, nâng cao năng lực kiểm nghiệm và xác lập trách nhiệm phối hợp giữa Nhà nước, hiệp hội, doanh nghiệp trong bảo vệ quyền lợi người nông dân.
Áp lực cạnh tranh và giảm giá nông sản: Đâu là cốt lõi?

Áp lực cạnh tranh và giảm giá nông sản: Đâu là cốt lõi?

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, nông sản Việt Nam đứng trước cơ hội mở rộng thị trường nhưng cũng phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt về giá cả, chất lượng và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn. Tình trạng được mùa mất giá, giá bán bấp bênh, chi phí đầu vào tăng cao vẫn là nỗi lo thường trực của người sản xuất. Vậy đâu là nguyên nhân cốt lõi và giải pháp nào giúp nông sản Việt thoát khỏi vòng luẩn quẩn cạnh tranh bằng giá rẻ?
Thúc đẩy giáo dục STEAM, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Thúc đẩy giáo dục STEAM, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Đại học Huế thúc đẩy giáo dục STEAM, tăng hợp tác doanh nghiệp, mở rộng thực tập và phát triển nhân lực chất lượng cao, hướng đến phát triển bền vững...
Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 1: Phân bón giả và những “lỗ hổng” trong quản lý

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 1: Phân bón giả và những “lỗ hổng” trong quản lý

Phân bón giả, phân bón kém chất lượng không chỉ gây thiệt hại cho người nông dân, làm tổn hại uy tín doanh nghiệp mà còn đặt ra những thách thức đối với công tác quản lý vật tư nông nghiệp. Những vụ việc được phát hiện gần đây cho thấy, bên cạnh thủ đoạn gian lận ngày càng tinh vi, vẫn còn những bất cập cần được nhận diện và khắc phục từ khâu sản xuất đến lưu thông, phân phối.
Tháo gỡ điểm nghẽn vật tư đầu vào cho nông nghiệp hữu cơ

Tháo gỡ điểm nghẽn vật tư đầu vào cho nông nghiệp hữu cơ

Vật tư đầu vào đạt chuẩn có vai trò quan trọng đối với chất lượng nông sản hữu cơ, song nguồn cung, giá thành và khả năng kiểm soát chất lượng vẫn là những thách thức đối với người sản xuất. Tháo gỡ các điểm nghẽn này đòi hỏi sự phối hợp giữa doanh nghiệp, hiệp hội và nông dân nhằm xây dựng chuỗi cung ứng vật tư minh bạch, ổn định và đáp ứng yêu cầu sản xuất hữu cơ.
Tăng cường phối hợp, ngăn chặn phân bón giả, làm sạch thị trường phân bón Việt Nam

Tăng cường phối hợp, ngăn chặn phân bón giả, làm sạch thị trường phân bón Việt Nam

Ngày 16/10/2026, tại Hà Nội, Hiệp hội Phân bón Việt Nam tổ chức Hội thảo “Phân bón giả – Nhận diện, ngăn chặn và xử lý”, với chủ đề “Tăng cường phối hợp Nhà nước - Hiệp hội - Doanh nghiệp trong việc làm sạch thị trường phân bón Việt Nam”. Hội thảo tập trung đánh giá thực trạng, nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống phân bón giả, phân bón kém chất lượng.
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển hệ thống thực phẩm bền vững

Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển hệ thống thực phẩm bền vững

Food Innovation Day 2026 tại Huế là sự kiện thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giảm lãng phí thực phẩm và kết nối nguồn lực vì nông nghiệp bền vững...
Phát huy vai trò nông dân trong xây dựng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại

Phát huy vai trò nông dân trong xây dựng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại

Tại Lễ tôn vinh và trao danh hiệu Nông dân Việt Nam xuất sắc 40 năm Đổi mới năm 2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị đổi mới tư duy kinh tế nông nghiệp, dành nguồn lực hỗ trợ sản xuất và nâng cao chất lượng sống ở nông thôn. Bốn nhóm nhiệm vụ được đặt ra nhằm phát huy vai trò của nông dân trong giai đoạn phát triển mới.
Quy trình chứng nhận hữu cơ - Bài 2: Từ đăng ký đến duy trì chứng nhận

Quy trình chứng nhận hữu cơ - Bài 2: Từ đăng ký đến duy trì chứng nhận

Để được chứng nhận hữu cơ, doanh nghiệp phải chuẩn bị hồ sơ, chứng minh điều kiện sản xuất và trải qua quá trình chuyển đổi và được đánh giá toàn bộ hệ thống sản xuất theo tiêu chuẩn áp dụng. Việc hiểu rõ từng bước sẽ giúp cơ sở sản xuất chủ động về thời gian, chi phí và kế hoạch khắc phục những điểm chưa phù hợp.
Hợp tác nghiên cứu giảm phát thải mê-tan trong sản xuất lúa.

Hợp tác nghiên cứu giảm phát thải mê-tan trong sản xuất lúa.

ĐH Huế hợp tác với doanh nghiệp nghiên cứu giảm phát thải mê-tan trong sản xuất lúa, thúc đẩy nông nghiệp xanh và mở hướng phát triển dự án carbon bền vững...
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính