![]() |
| Lâm Đồng đẩy mạnh phát triển các vùng chuyên canh cà phê, sầu riêng, rau, hoa gắn với ứng dụng khoa học công nghệ, hướng đến nền nông nghiệp xanh và bền vững |
Hình thành các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn
Những năm qua, thông qua công tác quy hoạch và tổ chức lại sản xuất, tỉnh Lâm Đồng từng bước hình thành các vùng chuyên canh tập trung gắn với lợi thế sinh thái và điều kiện sản xuất của từng địa phương. Đây được xem là nền tảng quan trọng để phát triển các ngành hàng nông sản chủ lực, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tăng thu nhập cho người sản xuất.
Đến năm 2025, tỉnh tập trung phát triển 6 ngành hàng chủ lực gồm cà phê, sầu riêng, rau, hoa, hồ tiêu và thanh long. Trong đó, cà phê tiếp tục giữ vai trò là ngành hàng có quy mô diện tích lớn nhất, với 328.650 ha, sản lượng đạt hơn 1 triệu tấn. Các vùng sản xuất tập trung được hình thành tại Bảo Lộc, Bảo Lâm, Di Linh, Lâm Hà, Đam Rông, Krông Nô, Đắk Mil và Đắk Song.
Đối với ngành hàng sầu riêng, diện tích đã tăng từ 16.205 ha năm 2020 lên 44.284 ha năm 2025, sản lượng đạt gần 308.000 tấn. Các vùng trồng tập trung chủ yếu tại Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Bảo Lộc, Bảo Lâm, Di Linh, Đam Rông và một số địa phương khác. Cùng với mở rộng diện tích, tỉnh đang từng bước định hướng sản xuất theo tiêu chuẩn, quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói nhằm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu chính ngạch.
Ngành rau tiếp tục phát huy lợi thế tại Đà Lạt, Lạc Dương, Đức Trọng và Lâm Hà. Năm 2025, diện tích rau đạt 90.563 ha, sản lượng khoảng 2,94 triệu tấn. Đây cũng là một trong những ngành hàng có trình độ ứng dụng công nghệ cao nổi bật, với hệ thống nhà kính, nhà lưới, tưới tự động và các cơ sở thu mua, sơ chế, chế biến ngày càng được hoàn thiện.
Trong khi đó, ngành hoa có diện tích 11.900 ha, sản lượng khoảng 4,5 tỷ cành, bông trong năm 2025, với hơn 400 loài hoa được sản xuất. Giá trị sản xuất bình quân đạt trên 3 tỷ đồng/ha/năm. Việc ứng dụng công nghệ nhà kính, châm phân tự động, nuôi cấy mô và các tiến bộ kỹ thuật tiếp tục củng cố vị thế của Lâm Đồng, đặc biệt là vùng hoa Đà Lạt, trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đối với hồ tiêu, diện tích năm 2025 đạt 37.193 ha, sản lượng 89.720 tấn. Định hướng phát triển tập trung vào ổn định diện tích, hạn chế mở rộng tại những vùng kém hiệu quả, đồng thời nâng cao năng suất và chất lượng thông qua áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ và liên kết sản xuất, tiêu thụ.
Riêng thanh long có diện tích 26.126 ha, sản lượng 577.731 tấn. Trước những biến động của thị trường, ngành hàng này đang chuyển dần từ phát triển theo chiều rộng sang nâng cao chất lượng, tăng cường quản lý mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Bên cạnh 6 ngành hàng chủ lực, các cây trồng đặc trưng như chè, dâu tằm, bơ, chuối, cây có múi và dược liệu tiếp tục được duy trì, góp phần đa dạng hóa cơ cấu sản xuất và khai thác hiệu quả lợi thế của từng tiểu vùng sinh thái.
Công nghệ cao tạo động lực nâng giá trị nông sản
Cùng với phát triển vùng chuyên canh, Lâm Đồng xác định ứng dụng khoa học, công nghệ là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản.
Đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có trên 107.300 ha sản xuất đạt tiêu chí nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chiếm khoảng 10,2% tổng diện tích gieo trồng. Trong đó, diện tích sản xuất nông nghiệp thông minh, ứng dụng công nghệ số, cảm biến và tự động hóa đạt khoảng 1.200 ha. Tỉnh cũng đã đầu tư Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Đắk Nông tại phường Đông Gia Nghĩa với quy mô 120 ha.
Nhiều công nghệ tiên tiến đang được ứng dụng trong sản xuất như nhà kính, nhà lưới, tưới tiết kiệm, thủy canh, khí canh, công nghệ sinh học và công nghệ sau thu hoạch. Đặc biệt, các giải pháp Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), cảm biến và điều khiển từ xa từng bước được đưa vào quản lý tưới tiêu, theo dõi sinh trưởng và kiểm soát dịch hại trên các loại cây trồng chủ lực.
Trong lĩnh vực sản xuất rau, hoa, chè và cà phê, việc ứng dụng hệ thống tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa kết hợp châm phân, điều khiển vi khí hậu đã góp phần tiết kiệm đáng kể nguồn nước và vật tư đầu vào. Theo đánh giá từ các mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, lượng nước tưới và phân bón có thể giảm khoảng 30%, lượng thuốc bảo vệ thực vật giảm 30-50%; năng suất tăng từ 2-3 lần, giá trị sản phẩm tăng khoảng 1,5-2 lần so với phương thức sản xuất truyền thống.
Cùng với công nghệ sản xuất, công tác nghiên cứu, chọn tạo và phát triển giống cây trồng tiếp tục được chú trọng. Việc ứng dụng công nghệ sinh học, nuôi cấy mô và đưa các giống mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu và yêu cầu thị trường.
Một hướng đi đáng chú ý khác là số hóa hoạt động quản lý và truy xuất nguồn gốc nông sản. Việc sử dụng mã QR, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang từng bước nâng cao tính minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Trong công tác bảo vệ thực vật, các chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM, IPHM) được đẩy mạnh, hướng đến giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao an toàn thực phẩm. Đây cũng là nền tảng để các vùng chuyên canh chuyển dần sang phương thức sản xuất thân thiện với môi trường, đáp ứng yêu cầu của nông nghiệp xanh và nông nghiệp hữu cơ.
Tháo gỡ điểm nghẽn để phát triển bền vững
Mặc dù đạt nhiều kết quả tích cực, quá trình phát triển vùng chuyên canh tại Lâm Đồng vẫn còn những hạn chế cần được khắc phục.
Tại một số địa phương, diện tích sầu riêng tăng nhanh tạo áp lực đối với công tác quản lý quy hoạch, kiểm soát chất lượng giống, cấp mã số vùng trồng và giám sát dư lượng hóa chất. Trong khi đó, một số vùng cà phê và hồ tiêu vẫn còn tỷ lệ cây già cỗi, năng suất thấp tương đối cao.
Hạ tầng giao thông nội đồng, hệ thống thủy lợi, cơ sở sơ chế và bảo quản sau thu hoạch chưa theo kịp quy mô phát triển của các vùng sản xuất tập trung. Điều này ảnh hưởng đến khả năng cơ giới hóa, giảm chi phí vận chuyển và duy trì chất lượng nông sản sau thu hoạch.
Một trong những hạn chế đáng quan tâm là sản phẩm xuất khẩu vẫn chủ yếu ở dạng thô hoặc sơ chế, giá trị gia tăng chưa cao. Năng lực chế biến sâu còn hạn chế, trong khi nguồn giống và vật tư phục vụ sản xuất công nghệ cao, nhất là đối với ngành rau, hoa, vẫn phụ thuộc khá nhiều vào nhập khẩu.
Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu dựa vào các hộ quy mô nhỏ. Sự liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân ở một số nơi chưa thực sự bền vững; khả năng tiếp cận công nghệ số, cơ giới hóa và các tiêu chuẩn sản xuất sinh thái giữa các vùng còn chưa đồng đều.
Những vấn đề này cho thấy, phát triển vùng chuyên canh không chỉ dừng lại ở việc mở rộng diện tích hay gia tăng sản lượng mà cần chuyển mạnh sang tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, kiểm soát chất lượng đồng bộ và nâng cao năng lực cạnh tranh của từng ngành hàng.
Hướng đến vùng chuyên canh công nghệ cao, sinh thái
Nhằm khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế nông nghiệp, Lâm Đồng đang xây dựng Đề án “Phát triển các vùng sản xuất chuyên canh tập trung, ứng dụng công nghệ cao, sinh thái trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050”.
Đề án được kỳ vọng tạo cơ sở để tổ chức lại không gian sản xuất nông nghiệp, xác định những vùng trọng điểm cần ưu tiên đầu tư, đồng thời gắn phát triển chuyên canh với yêu cầu bảo vệ tài nguyên, môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo định hướng, tỉnh sẽ ưu tiên nguồn lực đầu tư hạ tầng tại các vùng sản xuất tập trung, nhất là giao thông nội đồng, hệ thống thủy lợi, điện phục vụ sản xuất và các công trình tưới tiên tiến, tiết kiệm nước. Hạ tầng sơ chế, bảo quản, chế biến và logistics cũng được quan tâm nhằm nâng cao khả năng kết nối từ vùng nguyên liệu đến thị trường tiêu thụ.
Song song đó, công tác quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc sẽ được đẩy mạnh trên nền tảng số. Tỉnh định hướng mở rộng diện tích sản xuất đạt các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ và các tiêu chuẩn bền vững phù hợp với yêu cầu của thị trường xuất khẩu, trong đó có những yêu cầu liên quan đến quy định chống mất rừng và suy thoái rừng (EUDR).
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu số, bản đồ địa lý GIS phục vụ quản lý vùng trồng cũng được xác định là nhiệm vụ quan trọng. Các công nghệ IoT, AI, nhật ký sản xuất điện tử và nền tảng quản trị số sẽ từng bước được ứng dụng rộng rãi, giúp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tiết kiệm vật tư, nguồn nước và giảm phát thải trong sản xuất nông nghiệp.
Đặc biệt, tỉnh chú trọng nâng cao năng lực cho người sản xuất và hợp tác xã thông qua đào tạo, tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và phát triển các mô hình liên kết chuỗi giá trị. Việc tăng cường kết nối doanh nghiệp với vùng nguyên liệu được xem là giải pháp quan trọng để ổn định đầu ra, mở rộng thị trường xuất khẩu chính ngạch và nâng cao./.