![]() |
| Đoàn tham quan dây chuyền sản xuất gạo tại nhà máy Vina Green. |
Khép kín từ thu gom bụi đến tận dụng phụ phẩm
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nhiều doanh nghiệp không chỉ đầu tư máy sấy, dây chuyền xay xát hay đóng gói hiện đại trong chế biến nông sản mà còn tập trung xử lý những “điểm nghẽn” ngay trong dây chuyền sản xuất. Từ thu gom bụi cám, giảm lao động thủ công đến tận dụng tốt hơn phụ phẩm, mỗi cải tiến công nghệ đang góp phần giữ lại nhiều hơn giá trị của nông sản.
Tại Nhà máy Chế biến nông sản chất lượng cao VinaGreen, Khu công nghiệp Tây Bắc Ga (phường Hàm Rồng), dây chuyền sấy, xay xát có công suất 100.000 tấn lúa gạo/năm, cùng năng lực sản xuất 5.000 tấn bột ngũ cốc dinh dưỡng, bánh, bún, phở mỗi năm.
Quy mô sản xuất lớn kéo theo lượng bụi cám, bụi trấu phát sinh trong quá trình vận chuyển, xay xát và phân loại nguyên liệu. Qua vận hành từ tháng 1 đến tháng 4/2025, nhà máy nhận thấy hệ thống thu hồi cám, hút bụi còn một số hạn chế. Bụi mịn vẫn phát tán trong khu vực sản xuất, việc thu gom, đóng bao cám cần nhiều lao động thủ công; bụi bám trên thiết bị cũng làm tăng thời gian vệ sinh, bảo trì.
Từ thực tế đó, 6 cán bộ kỹ thuật của Nhà máy Chế biến nông sản chất lượng cao VinaGreen đã nghiên cứu cải tiến hệ thống thu gom, xử lý bụi cám. Thay vì xử lý riêng lẻ tại từng công đoạn, nhóm thiết kế lại quy trình theo hướng liên hoàn, kết nối các khâu thu gom, phối trộn, bảo quản cám với hệ thống hút bụi.
Giải pháp được áp dụng từ tháng 4/2025. Theo ông Vũ Ngọc Bắc, đại diện nhóm tác giả, yêu cầu đặt ra không chỉ là hút bụi khỏi khu vực sản xuất mà còn phải nâng hiệu quả thu hồi cám, giảm thao tác thủ công và hạn chế thất thoát phụ phẩm.Kết quả vận hành cho thấy hệ thống mới giúp giảm khoảng 75 - 80% nhân công ở khâu thu gom, đóng bao cám; hạn chế khoảng 95% lượng bụi cám phát tán và tăng khả năng thu hồi phụ phẩm. Chi phí vệ sinh, bảo trì máy móc, thiết bị giảm khoảng 30 - 40%.
Điều đáng chú ý là một cải tiến tưởng như chỉ liên quan đến môi trường sản xuất lại tạo ra hiệu quả ở nhiều khâu: giảm lao động thủ công, giảm chi phí vệ sinh, bảo vệ thiết bị và thu hồi tốt hơn nguồn phụ phẩm. Đây cũng là cách tiếp cận cho thấy đổi mới công nghệ không nhất thiết bắt đầu từ những dây chuyền hoàn toàn mới, mà có thể xuất phát từ việc giải quyết những bất cập ngay trên dây chuyền hiện có.
![]() |
| Mỗi năm Thanh Hóa sản xuất ra hàng trăm nghìn tấn rau củ, quả đây là nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến sâu để tăng giá trị nông sản. |
Giảm hao hụt, nâng giá trị nông sản
Mỗi năm, tỉnh Thanh Hóa sản xuất hơn 1,4 triệu tấn lúa, khoảng 540.000 tấn rau, củ, quả, 240.000 tấn thịt lợn, 33.000 tấn sữa tươi và khoảng 240.000 tấn thủy sản. Nguồn nguyên liệu lớn tạo dư địa phát triển công nghiệp chế biến, song cũng đặt ra yêu cầu giảm tổn thất trong thu hoạch, bảo quản và chế biến.
Hiện tổn thất sau thu hoạch đối với cây có hạt trên địa bàn tỉnh khoảng 10%; rau, củ, quả từ 10 - 15%, một số nông sản mùa vụ có thể vượt 20% khi thời tiết bất lợi. Vì vậy, áp dụng công nghệ không chỉ nằm ở việc tạo ra sản phẩm mới mà còn ở khả năng bảo toàn nguyên liệu, giảm hao hụt và tận dụng phụ phẩm.
Thanh Hóa hiện có khoảng 595 máy sấy nông sản, 17.250 máy chế biến lương thực và 218 kho bảo quản, với tổng công suất 49.536 tấn. Cùng với các cơ sở có quy mô vừa và nhỏ, công nghiệp chế biến cũng đang được mở rộng. Thanh Hóa hiện có 51 doanh nghiệp chế biến nông sản, trong đó lĩnh vực lúa gạo có 7 doanh nghiệp với tổng công suất khoảng 235.000 tấn/năm. Một số sản phẩm chế biến sâu đã được đầu tư với quy mô lớn, như cơ sở sản xuất sữa gạo lứt giàu protein có công suất 120 triệu hộp loại 250 ml/năm.
Tuy nhiên, so với sản lượng nguyên liệu, năng lực chế biến sâu vẫn còn nhiều hạn chế. Khi nông sản chỉ dừng ở sơ chế hoặc tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô, phần giá trị gia tăng cao chưa được khai thác đầy đủ.
Để nâng cao giá trị nông sản cần đầu tư công nghệ, ổn định vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất được kiểm soát và liên kết chặt giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp. Nguyên liệu ổn định, có truy xuất nguồn gốc sẽ tạo điều kiện để các dây chuyền sấy, phân loại và chế biến sâu phát huy hiệu quả. Đồng thời, yêu cầu về chất lượng, vệ sinh phải được kiểm soát xuyên suốt từ vùng sản xuất đến nhà máy và sản phẩm cuối cùng.
Giá trị nông sản không chỉ được sản xuất với sản lượng lớn mà cần được chế biến sâu để nâng cao giá trị. Khi công nghệ giúp giảm hao hụt, kiểm soát môi trường, tận dụng phụ phẩm và phát triển sản phẩm chế biến sâu, giá trị của nông sản lại có thêm cơ hội được giữ lại trong chuỗi sản xuất. Đây là một trong những nền tảng để nông sản Thanh Hóa nâng cao chất lượng, tăng giá trị và sức cạnh tranh.