ki-niem-15-voaa
Thứ sáu 09/10/2026 05:10Thứ sáu 09/10/2026 05:10 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: toasoan@tapchihuucovietnam.vn

Tag

Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Từ nền sản xuất dựa nhiều vào đất đai, lao động và kinh nghiệm truyền thống, ngành nông nghiệp đang từng bước chuyển sang mô hình dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, liên kết chuỗi và kinh tế xanh. Trong quá trình đó, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực trở thành yếu tố quyết định để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Làm thế nào khơi thông nguồn lực để phát triển nông nghiệp?
Sơ đồ minh hoạ

Nguồn lực không chỉ là vốn

Trong sản xuất nông nghiệp, vốn luôn được xem là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Tuy nhiên, nếu chỉ tập trung vào nguồn vốn tài chính thì chưa đủ. Nguồn lực cho phát triển nông nghiệp còn bao gồm đất đai, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, hạ tầng, thị trường, dữ liệu và năng lực tổ chức sản xuất.

Thực tế cho thấy, ở nhiều địa phương, đất đai vẫn còn bị phân tán, manh mún; cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất chưa đồng bộ; khả năng tiếp cận tín dụng của nông dân và hợp tác xã còn hạn chế. Trong khi đó, doanh nghiệp muốn đầu tư vào nông nghiệp quy mô lớn lại gặp không ít khó khăn liên quan đến tích tụ, tập trung đất đai, thủ tục đầu tư và liên kết với người sản xuất.

Nếu những điểm nghẽn này không được tháo gỡ, các nguồn lực dù có sẵn vẫn khó chuyển hóa thành năng lực sản xuất và giá trị kinh tế. Vì vậy, khơi thông nguồn lực trước hết phải bắt đầu từ việc hoàn thiện thể chế, tạo môi trường thuận lợi để các nguồn lực xã hội được huy động và phân bổ hiệu quả hơn.

Đất đai phải trở thành nguồn lực phát triển

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt của nông nghiệp. Nhưng trong điều kiện sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, giá trị của nguồn lực đất đai chưa được phát huy đầy đủ. Một nền nông nghiệp hiện đại cần những vùng sản xuất đủ lớn để áp dụng cơ giới hóa, công nghệ tưới, nhà màng, tự động hóa, truy xuất nguồn gốc và các quy trình sản xuất đồng bộ. Vì vậy, tích tụ, tập trung đất đai trên cơ sở bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất là một yêu cầu quan trọng.

Cùng với đó, cần phát triển các hình thức liên kết linh hoạt giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Người nông dân không nhất thiết phải từ bỏ quyền sử dụng đất để tham gia sản xuất quy mô lớn; thay vào đó có thể góp đất, cho thuê đất hoặc liên kết sản xuất theo hợp đồng. Khi đất đai được tổ chức lại hợp lý, một thửa ruộng không còn chỉ tạo ra giá trị từ sản phẩm nông nghiệp mà có thể trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị gồm sản xuất, chế biến, logistics, du lịch nông nghiệp và dịch vụ nông thôn.

Khơi thông dòng vốn vào nông nghiệp

Nông nghiệp thường được đánh giá là lĩnh vực có rủi ro cao do phụ thuộc vào thời tiết, dịch bệnh và biến động thị trường. Đây cũng là nguyên nhân khiến nhiều tổ chức tín dụng thận trọng khi cho vay đối với nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp. Để khơi thông dòng vốn, cần đa dạng hóa các kênh tài chính cho nông nghiệp. Bên cạnh tín dụng ngân hàng, cần thúc đẩy các quỹ hỗ trợ, bảo lãnh tín dụng, bảo hiểm nông nghiệp, tín dụng xanh và các chương trình đầu tư theo chuỗi giá trị.

Đặc biệt, những mô hình sản xuất hữu cơ, tuần hoàn, tiết kiệm nước, giảm phát thải, sử dụng năng lượng tái tạo và bảo vệ đất cần được tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi phù hợp. Đây không chỉ là hỗ trợ tài chính đơn thuần mà còn là cách định hướng dòng vốn vào những mô hình tạo ra giá trị lâu dài cho kinh tế và môi trường.

Khoa học công nghệ mở rộng không gian phát triển

Nếu đất đai là nền tảng thì khoa học công nghệ chính là động lực để nâng cao giá trị của nông nghiệp. Công nghệ giống, công nghệ sinh học, cảm biến, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, máy bay không người lái, hệ thống tưới thông minh và nền tảng quản trị số đang mở ra khả năng thay đổi phương thức sản xuất truyền thống.

Điều quan trọng là công nghệ phải đến được với nông dân. Một công nghệ dù hiện đại nhưng quá đắt hoặc khó sử dụng cũng khó tạo ra tác động rộng lớn. Vì vậy, cần có cơ chế để doanh nghiệp công nghệ, viện nghiên cứu, trường đại học và hợp tác xã cùng tham gia chuyển giao công nghệ.

Chuyển đổi số cũng cần được nhìn nhận rộng hơn việc đưa dữ liệu lên các nền tảng trực tuyến. Dữ liệu về vùng trồng, đất đai, khí hậu, sản lượng, chất lượng, thị trường và truy xuất nguồn gốc nếu được kết nối sẽ giúp người sản xuất đưa ra quyết định chính xác hơn, đồng thời giúp doanh nghiệp kiểm soát tốt chuỗi cung ứng.

Nâng chất lượng nguồn nhân lực

Một trong những nguồn lực quan trọng nhưng đôi khi chưa được quan tâm đúng mức là con người. Nông nghiệp hiện đại cần người nông dân không chỉ biết sản xuất mà còn hiểu thị trường, tiêu chuẩn chất lượng, công nghệ, thương mại điện tử, quản trị tài chính và xây dựng thương hiệu. Trong khi đó, đội ngũ quản lý hợp tác xã cũng cần được nâng cao năng lực để chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh doanh và tổ chức chuỗi giá trị.

Do đó, đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp cần gắn với nhu cầu thực tế của từng vùng sản xuất. Không nên chỉ đào tạo lý thuyết mà cần tăng cường mô hình "cầm tay chỉ việc", đào tạo tại trang trại, vùng nguyên liệu và hợp tác xã.

Liên kết để biến nguồn lực thành sức mạnh

Một hộ nông dân riêng lẻ khó có thể đầu tư nhà máy chế biến, xây dựng thương hiệu hay tiếp cận thị trường quốc tế. Nhưng khi hàng trăm hộ liên kết thông qua hợp tác xã, cùng với doanh nghiệp chế biến và phân phối, quy mô nguồn lực sẽ được nâng lên đáng kể. Liên kết "nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp - nhà khoa học - Nhà nước" vì thế cần được xem là một cấu trúc quan trọng của nền nông nghiệp hiện đại.

Trong chuỗi liên kết đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế và hạ tầng; doanh nghiệp dẫn dắt thị trường; hợp tác xã tổ chức sản xuất; nông dân là chủ thể trực tiếp tạo ra sản phẩm; các nhà khoa học cung cấp giải pháp công nghệ. Khi mỗi chủ thể phát huy đúng vai trò, nguồn lực xã hội sẽ được cộng hưởng thay vì phân tán.

Từ khai thác nguồn lực sang tạo dựng giá trị

Khơi thông nguồn lực không có nghĩa là khai thác ngày càng nhiều đất, nước, lao động hay vật tư đầu vào. Mục tiêu quan trọng hơn là tạo ra nhiều giá trị hơn trên cùng một đơn vị tài nguyên.

Đó chính là yêu cầu của nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn. Phụ phẩm nông nghiệp cần được tái sử dụng làm phân bón, thức ăn chăn nuôi hoặc nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác. Chất thải chăn nuôi có thể trở thành nguồn nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ, khí sinh học. Nước được sử dụng tiết kiệm và tuần hoàn. Đất được bảo vệ để duy trì năng lực sản xuất lâu dài. Khi đó, nông nghiệp không chỉ tạo ra lương thực, thực phẩm mà còn tạo ra giá trị môi trường, giá trị cảnh quan, giá trị văn hóa và nhiều dịch vụ mới ở khu vực nông thôn.

Mở rộng không gian cho nông nghiệp Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường ngày càng coi trọng chất lượng, an toàn thực phẩm, phát thải thấp và trách nhiệm môi trường, việc khơi thông nguồn lực phải gắn chặt với quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Nông nghiệp Việt Nam không thể chỉ cạnh tranh bằng sản lượng và giá thấp. Lợi thế trong tương lai sẽ nằm ở chất lượng, thương hiệu, công nghệ, khả năng truy xuất nguồn gốc và mức độ xanh của sản phẩm.

Muốn vậy, cần tiếp tục tháo gỡ những điểm nghẽn về đất đai, vốn, hạ tầng, khoa học công nghệ và thị trường; đồng thời nâng cao năng lực của nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Khi các nguồn lực được kết nối và sử dụng hiệu quả, mỗi vùng đất, mỗi sản phẩm và mỗi người nông dân đều có thể trở thành một phần của chuỗi giá trị mới.

Khơi thông nguồn lực, xét đến cùng, không chỉ nhằm làm cho nông nghiệp "sản xuất nhiều hơn", mà quan trọng hơn là tạo ra giá trị cao hơn, xanh hơn và bền vững hơn. Đây sẽ là nền tảng để nông nghiệp Việt Nam chuyển từ tư duy khai thác lợi thế tự nhiên sang chủ động kiến tạo lợi thế cạnh tranh, đóng góp ngày càng lớn cho kinh tế đất nước và nâng cao chất lượng đời sống khu vực nông thôn./.

Bài liên quan

CÁC TIN BÀI KHÁC

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất nông nghiệp hữu cơ và giải pháp phát triển bền vững

Nông nghiệp hữu cơ đối mặt nhiều thách thức về chi phí giám sát, rủi ro dịch bệnh và tính minh bạch. Việc ứng dụng công nghệ số như IoT, AI, Blockchain, Big Data và UAV tạo ra bước ngoặt giúp tối ưu hóa quản lý, kiểm soát tiêu chuẩn nghiêm ngặt và công khai chuỗi giá trị. Bài viết phân tích thực trạng, hạ tầng công nghệ, tác động kinh tế - sinh thái, rào cản cốt lõi và đề xuất giải pháp phát triển bền vững.
Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Nước tưới hoạt hóa bằng khoáng chất và ánh sáng mặt trời giúp năng suất cây trồng tăng tới hơn 100%

Các thử nghiệm đồng ruộng quy mô lớn trải dài từ Hắc Long Giang đến Hải Nam cho thấy nước tưới được xử lý bằng khoáng chất tự nhiên hoạt hóa dưới ánh nắng có thể nâng năng suất lúa tới 40,6%, mía 45,7% và khoai lang 109,5%, theo nhóm nhà khoa học thuộc Đại học Bắc Kinh.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 3: Từ nhận thức đến hành động

Chuyển đổi hệ thống lương thực – thực phẩm không thể thành công nếu chỉ trông chờ vào một chính sách, một ngành, một doanh nghiệp hay một nhóm người. Việt Nam đã có Kế hoạch hành động quốc gia theo Quyết định 300/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhưng trong quá trình thực hiện vẫn gặp những khó khăn về nguồn lực, hướng dẫn, dữ liệu và năng lực của các bên. Điều quan trọng lúc này là biến mục tiêu lớn thành những việc cụ thể, để Nhà nước, địa phương, người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, truyền thông và người tiêu dùng cùng tạo ra thay đổi. Chuyển đổi chỉ thực sự xảy ra khi mỗi mắt xích nhận rõ trách nhiệm và cùng hành động.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 2: Từ cánh đồng đến thị trường

Một nền nông nghiệp có thể tạo ra hàng triệu tấn lương thực, thực phẩm mỗi năm nhưng vẫn còn những điểm nghẽn trên hành trình từ cánh đồng đến bàn ăn. Người sản xuất có thể làm ra sản phẩm nhưng chưa chắc có thị trường ổn định, doanh nghiệp có thể có đơn hàng nhưng chưa chắc có vùng nguyên liệu bền vững, sản phẩm có chất lượng nhưng vẫn có thể mất giá trị nếu bảo quản, chế biến và logistics chưa đáp ứng. Vì vậy, bài toán của hệ thống lương thực - thực phẩm không chỉ là “sản xuất được bao nhiêu”, mà còn là sản xuất như thế nào, kết nối ra sao và giá trị được tạo ra, phân bổ như thế nào trong toàn chuỗi.
Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững - Kỳ 1: Từ bàn ăn nhìn ra cả hệ thống

Mỗi ngày, một bữa cơm gia đình bắt đầu từ những điều rất quen thuộc: Hạt gạo, bó rau, con cá, quả trứng hay miếng thịt. Nhưng để những thực phẩm ấy xuất hiện trên bàn ăn là cả một hành trình dài, với sự tham gia của người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý, hệ thống phân phối và chính người tiêu dùng. Phía sau mỗi món ăn còn là đất, nước, lao động, công nghệ, thị trường, chính sách và môi trường. Hiểu được hành trình ấy chính là bước đầu tiên để mỗi người nhận ra mình đang ở đâu và có thể làm gì để cùng xây dựng một hệ thống lương thực - thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững.
Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Khả năng hấp thụ carbon của hệ thống nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ đang mở ra hướng tiếp cận mới trong ứng phó biến đổi khí hậu khi không chỉ giảm phụ thuộc vào vật tư hóa học mà còn góp phần gia tăng carbon trong đất. Thông qua đa dạng hóa cây trồng, sử dụng phân hữu cơ, cây che phủ, luân canh và giảm làm đất, hệ thống này có thể nâng cao khả năng lưu giữ carbon, cải thiện sức khỏe đất và phát triển nông nghiệp bền vững.
Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống

Chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn cần được thực hiện đồng bộ từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ đến liên kết thị trường và chia sẻ lợi ích. Tại hội thảo khoa học tổ chức ngày 30/9 ở Ninh Bình, các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và hợp tác xã nhấn mạnh yêu cầu để người nông dân được hưởng lợi xứng đáng từ những giá trị sinh thái mà họ tạo ra.
AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

AOLC 2026: Lan tỏa những sáng kiến nông nghiệp sinh thái và hữu cơ

Ngày 30/9, tại Hà Nội, Khóa tập huấn Lãnh đạo Nông nghiệp Sinh thái và Hữu cơ năm 2026 (AOLC 2026) chính thức bế mạc, ghi nhận 27 học viên hoàn thành chương trình và vinh danh bốn đề án phát triển tiêu biểu. Từ những sáng kiến về thực phẩm học đường, sinh kế cộng đồng đến kết nối thị trường, khóa học mở ra kỳ vọng lan tỏa các thực hành nông nghiệp sinh thái, hữu cơ vào đời sống.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ

Quyết định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ không chỉ chịu tác động bởi nhận thức về sức khỏe và an toàn thực phẩm mà còn liên quan đến giá cả, chất lượng, niềm tin, kiến thức, khả năng tiếp cận và các chuẩn mực xã hội. Việc nhận diện đầy đủ những yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng chính sách, phát triển thị trường và thúc đẩy tiêu dùng thực phẩm hữu cơ bền vững tại Việt Nam.
Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Cần Thơ ban hành quy định mới về canh tác trên vùng hữu cơ

Từ đất, nước, không khí, thời gian chuyển đổi đến vật tư đầu vào, phòng trừ sinh vật gây hại, thu hoạch, bảo quản và truy xuất nguồn gốc, từng khâu trong canh tác trên vùng hữu cơ tại Cần Thơ được quy định cụ thể.
Vai trò của Hợp tác xã trong phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững

Vai trò của Hợp tác xã trong phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững

Trong quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn và bền vững, hợp tác xã ngày càng giữ vai trò kết nối quan trọng giữa nông dân, doanh nghiệp và thị trường. Tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn, hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng thương hiệu và liên kết chuỗi giá trị giúp nông nghiệp hữu cơ nâng cao giá trị, sức cạnh tranh.
Khẳng định vai trò khuyến nông trong canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh

Khẳng định vai trò khuyến nông trong canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh

Ngày 22/9, tại Nghệ An, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An tổ chức Diễn đàn Khuyến nông Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh”.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính