ki-niem-15-voaa
Thứ ba 03/11/2026 02:56Thứ ba 03/11/2026 02:56 Hotline: 0326.050.977Hotline: 0326.050.977 Email: toasoan@tapchihuucovietnam.vnEmail: toasoan@tapchihuucovietnam.vn

Tag

Tìm lời giải cho bài toán nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long

Tăng
aa
Giảm
Chia sẻ Facebook
Bình luận
In bài viết
Xâm nhập mặn, hạn hán và những biến động khó lường của nguồn nước đang đặt sản xuất nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long trước nhiều thách thức. Tại hội thảo ở TP Cần Thơ, các chuyên gia, nhà quản lý và đối tác quốc tế cùng trao đổi giải pháp thích ứng, từ quản lý nguồn nước, điều chỉnh phương thức canh tác đến phát triển chuỗi giá trị, hướng đến mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo đảm sinh kế cho người nông dân.
ĐBSCL tìm lời giải cho bài toán nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn

Các đại biểu trong nước và quốc tế tham dự hội thảo, cùng trao đổi giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng với xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: Minh Triết

Ngày 2/11, tại TP Cần Thơ, Hội thảo “Giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng với xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long” diễn ra với sự tham dự của đại diện các cơ quan quản lý, tổ chức nông dân, viện nghiên cứu, trường đại học và các đối tác trong nước, quốc tế.

Tham dự hội thảo có TSKH Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA); TS Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch VOAA; ông Nguyễn Văn Sử, Chủ tịch Hội Nông dân TP Cần Thơ; ông Nguyễn Văn Cọp, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh An Giang; ông Joost van Uum, Tham tán Nông nghiệp, Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam; ông Peter Prins, CEO SALTA; ông Trần Thái Hùng, Phó Giám đốc Trung tâm Thủy nông và Cấp nước, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam; bà Nguyễn Thị Việt Hà, Phó ban Công tác Nông dân, Hội Nông dân Việt Nam; ông Nguyễn Văn Hải, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi TP Cần Thơ; TS Đặng Kiều Nhân, Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong, Trường Đại học Cần Thơ.

ĐBSCL tìm lời giải cho bài toán nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn

Hội thảo thu hút sự tham gia của các nhà khoa học, cơ quan quản lý, tổ chức và chuyên gia trong nước, quốc tế nhằm chia sẻ kinh nghiệm, đề xuất giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững tại ĐBSCL. Ảnh: Minh Triết

Cùng tham dự có đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường các địa phương gồm Cần Thơ, An Giang, Vĩnh Long, Cà Mau, Đồng Tháp, Tây Ninh; các viện nghiên cứu, trường đại học, hệ thống Hội Nông dân và các đối tác Hà Lan.

Hội thảo do VOAA, Santa Foundation, Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam, Cơ quan Hợp tác Doanh nghiệp Hà Lan và Đối tác Thực phẩm Hà Lan phối hợp tổ chức.

Tại hội thảo, các đại biểu tập trung thảo luận những thách thức trong sản xuất nông nghiệp trước tác động của hạn hán, xâm nhập mặn và biến động nguồn nước ở Đồng bằng sông Cửu Long. Các ý kiến đề cập đến kinh nghiệm quản lý nguồn nước, lựa chọn mô hình canh tác phù hợp với điều kiện từng vùng và yêu cầu gắn chuyển đổi sản xuất với đầu ra nông sản, bảo đảm sinh kế cho người nông dân.

ĐBSCL tìm lời giải cho bài toán nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn

Ông Nguyễn Văn Sử, Chủ tịch Hội Nông dân TP Cần Thơ, phát biểu chào mừng tại hội thảo về giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng với xâm nhập mặn tại ĐBSCL. Ảnh: Minh Triết

Từ kinh nghiệm quốc tế đến giải pháp phù hợp với địa phương

Chào mừng các đại biểu tham dự hội thảo, ông Nguyễn Văn Sử, Chủ tịch Hội Nông dân TP Cần Thơ, đề cập những tác động của biến đổi khí hậu, nắng nóng và xâm nhập mặn đối với sản xuất nông nghiệp, từ trồng lúa, cây ăn trái đến nuôi trồng thủy sản. Trước những thách thức này, việc chủ động thích ứng, lựa chọn phương thức sản xuất phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương có ý nghĩa quan trọng.

Theo ông Sử, Hội Nông dân có vai trò kết nối nhà khoa học, doanh nghiệp và các đối tác, đưa kiến thức khoa học, tiến bộ kỹ thuật đến gần hơn với người trực tiếp sản xuất. Sự phối hợp giữa các bên sẽ góp phần giúp nông dân tiếp cận những mô hình phù hợp, từng bước chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng xanh và bền vững.

“Trước những tác động của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn, nông dân cần được tiếp cận những giải pháp thiết thực, phù hợp với điều kiện sản xuất của từng địa phương. Việc kết nối nhà khoa học, doanh nghiệp và tổ chức Hội sẽ giúp các mô hình thích ứng đến gần hơn với người dân”, ông Nguyễn Văn Sử chia sẻ.

ĐBSCL tìm lời giải cho bài toán nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn

TSKH Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam (VOAA), phát biểu khai mạc hội thảo về giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng với xâm nhập mặn tại ĐBSCL. Ảnh: Minh Triết

Phát biểu khai mạc hội thảo, TSKH Hà Phúc Mịch, Chủ tịch VOAA, nhấn mạnh yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường đang đặt ra nhiều thách thức. Theo ông, Đồng bằng sông Cửu Long có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp, xuất khẩu nông sản và sinh kế của hàng triệu người dân. Tuy nhiên, những tác động của hạn hán, xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt, sụt lún đất và nước biển dâng đang gây sức ép ngày càng lớn lên khu vực.

Từ thực tế đó, việc chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng bền vững, dựa trên các nguyên lý sinh thái, trong đó có nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp tuần hoàn, trở thành vấn đề cần được quan tâm nhằm bảo vệ môi trường và thích ứng với những biến động của khí hậu.

Đề cập nội dung hội thảo, TSKH Hà Phúc Mịch mong muốn các đại biểu, đặc biệt là đại diện nông dân, cơ quan chuyên môn và giới khoa học, cùng chia sẻ kinh nghiệm ứng phó với hạn hán, xâm nhập mặn, thảo luận những khó khăn trong thực tiễn sản xuất và đóng góp khuyến nghị cho khu vực.

“Tôi đề nghị quý đại biểu sẽ tập trung thảo luận nhận diện đầy đủ những khó khăn, thách thức và đề xuất khuyến nghị, đồng thời đề xuất các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu nói chung và xâm nhập mặn nói riêng”, TSKH Hà Phúc Mịch nhấn mạnh.

Dịp này, Chủ tịch VOAA cảm ơn SALTA Foundation (Hà Lan) đã có sáng kiến, tài trợ và đồng hành cùng ban tổ chức thực hiện hội thảo.

ĐBSCL tìm lời giải cho bài toán nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn

Ông Joost van Uum, Tham tán Nông nghiệp, Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam, chia sẻ tại hội thảo về các giải pháp thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững. Ảnh: Minh Triết

Ở góc độ hợp tác quốc tế, ông Joost van Uum, Tham tán Nông nghiệp, Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam, chia sẻ kinh nghiệm của Hà Lan trong quản lý nước và thích ứng với biến đổi khí hậu. Những vấn đề liên quan đến nguồn nước, xâm nhập mặn và sản xuất nông nghiệp đòi hỏi cách tiếp cận tổng thể, kết hợp giữa nghiên cứu khoa học, quản lý và thực tiễn canh tác.

Theo ông Joost van Uum, kinh nghiệm quốc tế có thể mang lại những gợi mở hữu ích cho ĐBSCL, nhưng không thể áp dụng máy móc mà cần được điều chỉnh phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế và tập quán sản xuất của địa phương.

“Việt Nam và Hà Lan có những điểm tương đồng trong các thách thức về quản lý nước và thích ứng với biến đổi khí hậu. Điều quan trọng là chia sẻ kinh nghiệm, cùng tìm kiếm giải pháp và điều chỉnh cách tiếp cận để phù hợp với điều kiện thực tế của Đồng bằng sông Cửu Long”, ông Joost van Uum chia sẻ.

ĐBSCL tìm lời giải cho bài toán nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn

Ông Peter Prins, CEO SALTA Foundation, phát biểu tại hội thảo về giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng với xâm nhập mặn ở ĐBSCL. Ảnh: Minh Triết

Từ kinh nghiệm làm việc tại những khu vực chịu ảnh hưởng của hạn hán và xâm nhập mặn, ông Peter Prins, CEO SALTA, chia sẻ những bài học thực tế về tác động của độ mặn đối với đất đai, cây trồng và hoạt động sản xuất nông nghiệp.

Nhắc lại chuyến công tác tại Bạc Liêu năm 2016, ông Peter Prins cho biết từng tham gia đoàn khảo sát thực địa tại khu vực sản xuất lúa trong đợt hạn mặn lịch sử. Thời điểm đó, sản lượng lúa sụt giảm đáng kể, gây thiệt hại cho nông dân và khiến việc dự báo sản lượng ở những vụ tiếp theo trở nên khó khăn.

Theo ông, xâm nhập mặn không chỉ ảnh hưởng đến nguồn nước tưới mà còn có thể làm thay đổi đặc tính của đất, tác động đến khả năng cung cấp dinh dưỡng và sự phát triển của cây trồng. Khi đất bị ảnh hưởng bởi muối, cây có thể sinh trưởng kém, chất lượng và hình thức nông sản suy giảm. Những tác động này còn liên quan đến các yếu tố như biến đổi khí hậu, suy giảm nguồn nước ngầm và sụt lún đất.

Từ kinh nghiệm thực tế tại Hà Lan, ông Peter Prins cũng đề cập tình trạng nông dân sử dụng nguồn nước tưới nhưng không nhận biết độ mặn đã tăng cao. Việc đưa nguồn nước nhiễm mặn vào đồng ruộng trong thời gian dài có thể khiến muối tích tụ trong đất, ảnh hưởng đến quá trình canh tác.

“Có những trường hợp nông dân lấy nước từ kênh để tưới cho cây trồng nhưng không nhận ra độ mặn trong nước đã tăng cao. Qua từng lần tưới, muối tích tụ trong đất mà người sản xuất không hề hay biết”, ông Peter Prins chia sẻ.

Theo ông, một trong những khó khăn hiện nay là thiếu dữ liệu chi tiết về chất lượng nguồn nước phục vụ sản xuất. Người dân có thể biết độ mặn tại các sông lớn nhưng chưa chắc nắm được độ mặn tại vị trí lấy nước trực tiếp vào ruộng, cũng như mức độ biến động theo từng ngày. Trong khi đó, mỗi loại cây trồng có khả năng chịu mặn khác nhau, đòi hỏi phải có thông tin cụ thể để lựa chọn phương án sản xuất phù hợp.

“Chúng ta có thể biết độ mặn của các sông lớn, nhưng lại chưa biết rõ độ mặn của nguồn nước được đưa trực tiếp vào đồng ruộng và sự biến động của nó theo từng ngày. Đây là những dữ liệu cần thiết để người nông dân có cơ sở lựa chọn giải pháp sản xuất phù hợp”, ông Peter Prins nhấn mạnh.

Từ thực tế đó, ông cho rằng cần tăng cường theo dõi chất lượng nước tưới, đồng thời xác định khả năng chịu hạn, chịu mặn của từng loại cây trồng. Việc lựa chọn giống phù hợp, chăm sóc và cải thiện chất lượng đất, quản lý nguồn nước cùng hệ thống tưới, tiêu thoát nước cần được xem xét đồng bộ.

Bên cạnh đó, việc thu gom và tích trữ nước mưa cũng là hướng cần được quan tâm nhằm tận dụng nguồn nước ngọt phục vụ sản xuất khi nguồn nước bên ngoài biến động. Theo ông Peter Prins, các giải pháp cần xuất phát từ điều kiện thực tế của từng khu vực, loại cây trồng và khả năng đầu tư của người nông dân.

ĐBSCL tìm lời giải cho bài toán nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn

Ông Trần Thái Hùng, Phó Giám đốc Trung tâm Thủy nông và Cấp nước, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, trình bày nội dung tại hội thảo. Ảnh: Minh Triết

Chủ động quản lý nguồn nước, bảo đảm sản xuất

Nếu kinh nghiệm quốc tế mang đến những cách tiếp cận mới, thực tiễn tại ĐBSCL cho thấy quản lý nguồn nước vẫn là một trong những vấn đề quan trọng đối với khả năng duy trì sản xuất nông nghiệp.

Từ góc độ khoa học thủy lợi, ông Trần Thái Hùng, Phó Giám đốc Trung tâm Thủy nông và Cấp nước, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đề cập những sức ép lên nguồn nước của đồng bằng trước tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sụt lún, sạt lở và xâm nhập mặn.

Theo ông, bảo đảm an ninh nguồn nước không chỉ phụ thuộc vào hệ thống công trình thủy lợi mà còn cần quan tâm đến khả năng trữ nước tại chỗ. Việc tận dụng các kênh, mương, ao và những khu vực phù hợp trong vườn cây có thể góp phần bổ sung nguồn nước phục vụ sản xuất khi nguồn cấp bên ngoài bị hạn chế.

Đối với những vùng trồng cây ăn trái, khả năng trữ nước cần được tính toán phù hợp với nhu cầu tưới, đặc điểm đất đai và điều kiện sản xuất. Kết hợp trữ nước với phương thức canh tác phù hợp sẽ giúp người dân chủ động hơn trước những biến động của nguồn nước.

Ông Trần Thái Hùng nhấn mạnh: “Trong điều kiện nguồn nước biến động, việc chủ động trữ nước tại chỗ cần được quan tâm, nhất là ở những vùng sản xuất cây ăn trái. Kết hợp quản lý nguồn nước với các giải pháp canh tác phù hợp sẽ góp phần nâng cao khả năng thích ứng của sản xuất nông nghiệp”.

ĐBSCL tìm lời giải cho bài toán nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn

Bà Nguyễn Thị Việt Hà, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội, Phó Trưởng ban Công tác Nông dân, Hội Nông dân Việt Nam, phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Minh Triết

Từ thực tiễn công tác Hội và nhu cầu của người sản xuất, bà Nguyễn Thị Việt Hà, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội, Phó Trưởng ban Công tác Nông dân, Hội Nông dân Việt Nam, nhấn mạnh vai trò thay đổi nhận thức trong quá trình thích ứng với xâm nhập mặn. Theo bà, bên cạnh việc ứng phó với những điều kiện bất lợi, người nông dân cần chủ động lựa chọn phương thức sản xuất phù hợp, đổi mới cách tổ chức sản xuất và tăng cường quản lý rủi ro.

Bà cho rằng, việc chia sẻ kinh nghiệm giữa nông dân, nhà khoa học, cơ quan chuyên môn và các tổ chức liên quan có thể giúp nhận diện rõ hơn những vấn đề phát sinh tại cơ sở, từ đó tìm kiếm các giải pháp có tính ứng dụng cao.

“Thích ứng với xâm nhập mặn trước hết cần bắt đầu từ thay đổi nhận thức, tiếp đến là điều chỉnh phương thức sản xuất và quản lý rủi ro. Các giải pháp phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của nông dân, có sự phối hợp giữa các bên và hướng đến khả năng áp dụng lâu dài”, bà Nguyễn Thị Việt Hà chia sẻ.

ĐBSCL tìm lời giải cho bài toán nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn

Ông Nguyễn Văn Hải, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi TP Cần Thơ, trình bày tại hội thảo về các vấn đề liên quan đến thủy lợi và thích ứng với xâm nhập mặn. Ảnh: Minh Triết

Ở góc độ quản lý địa phương, ông Nguyễn Văn Hải, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi TP Cần Thơ, tập trung vào công tác theo dõi, dự báo diễn biến độ mặn và khả năng đáp ứng của các nguồn cấp nước.

Theo ông Hải, việc đánh giá độ mặn cần xem xét thời điểm xuất hiện, thời gian kéo dài và mức độ ảnh hưởng tại từng vị trí lấy nước. Những thay đổi về độ mặn có thể tác động đến cây trồng, đặc biệt tại các khu vực sử dụng nguồn nước tưới trực tiếp.

Do đó, công tác quan trắc, dự báo và cảnh báo cần được kết nối với phương án trữ nước, dẫn nước, xử lý và phân bổ nguồn nước. Việc rà soát khả năng cấp nước tại từng khu vực cũng giúp chủ động hơn trong những thời điểm nguồn nước khan hiếm.

“Công tác quản lý nguồn nước cần dựa trên việc theo dõi sát diễn biến độ mặn và đánh giá khả năng đáp ứng của từng nguồn cấp. Chủ động trữ nước, sử dụng nước tiết kiệm và xây dựng phương án cấp nước phù hợp sẽ góp phần hạn chế rủi ro cho sinh hoạt và sản xuất”, ông Nguyễn Văn Hải nhấn mạnh.

Những trao đổi tại hội thảo cho thấy quản lý nguồn nước không chỉ là nhiệm vụ của ngành chuyên môn mà còn liên quan trực tiếp đến quyết định sản xuất của từng hộ dân. Thông tin quan trắc, dự báo cần được chuyển tải kịp thời để người nông dân có cơ sở lựa chọn mùa vụ, điều chỉnh phương thức canh tác và chủ động nguồn nước phục vụ sản xuất.

ĐBSCL tìm lời giải cho bài toán nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn

TS Đặng Kiều Nhân, Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong, Trường Đại học Cần Thơ, tham gia trao đổi tại hội thảo về phát triển nông nghiệp bền vững ở ĐBSCL. Ảnh: Minh Triết

Không chỉ thay đổi kỹ thuật mà phải nâng cao giá trị nông sản

Bên cạnh quản lý nguồn nước và điều chỉnh kỹ thuật canh tác, vấn đề làm thế nào để người nông dân duy trì được thu nhập từ mô hình sản xuất thích ứng cũng được đặt ra tại hội thảo.

Từ quá trình nghiên cứu các hệ thống canh tác ở ĐBSCL, TS Đặng Kiều Nhân, Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong, Trường Đại học Cần Thơ, cho rằng xâm nhập mặn không phải yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến sản xuất. Hạn hán, đất phèn và sự thay đổi nguồn nước theo mùa cũng tác động đến cây trồng, đòi hỏi việc lựa chọn mô hình phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng vùng.

Theo ông, nếu chỉ nhìn vào độ mặn mà chưa đánh giá đầy đủ đặc điểm đất, nước và thời điểm sản xuất, giải pháp đưa ra có thể chưa phù hợp với thực tế. Những mô hình đã được nghiên cứu, thử nghiệm cần tiếp tục được đánh giá, hoàn thiện trước khi xem xét mở rộng.

TS Đặng Kiều Nhân cho rằng thay đổi giống, kỹ thuật canh tác hay phương pháp quản lý đất và nước là cần thiết, nhưng chưa đủ để bảo đảm hiệu quả lâu dài. Điều quan trọng hơn là phải đặt hoạt động sản xuất trong mối liên hệ với thị trường và khả năng tạo thu nhập cho nông dân.

Ông phân tích: “Kỹ thuật canh tác cần nhưng mà chưa đủ. Điều quan trọng là phải nhìn được cả chuỗi giá trị, từ sản xuất đến tiêu thụ, để xem sản phẩm có bán được hay không, nông dân có lời được hay không”.

Theo TS Đặng Kiều Nhân, phát triển kinh tế nông nghiệp cần vượt ra khỏi cách tiếp cận chỉ chú trọng năng suất. Hiệu quả của một mô hình còn được thể hiện ở khả năng tiêu thụ sản phẩm, lợi nhuận của người sản xuất và khả năng duy trì hoạt động sau khi kết thúc các chương trình hỗ trợ.

Thực tiễn phát triển chuỗi giá trị hành tím tại Sóc Trăng là một ví dụ được ông đề cập. Theo đó, việc cải thiện giống và kỹ thuật sản xuất cần đi cùng cung ứng vật tư đầu vào, hướng dẫn canh tác và liên kết tiêu thụ. Khi các khâu được kết nối, mô hình có thêm điều kiện mở rộng và tạo giá trị cho sản phẩm.

Ngược lại, nếu chỉ tập trung vào giai đoạn thí điểm mà thiếu sự tiếp nối sau khi dự án kết thúc, những kết quả đạt được sẽ khó duy trì. Vì vậy, việc phát triển mô hình cần tính đến vai trò của hợp tác xã, doanh nghiệp, đơn vị chuyên môn và khả năng tham gia lâu dài của người nông dân.

Một vấn đề khác được TS Đặng Kiều Nhân đề cập là cách nhìn nhận về nước mặn trong sản xuất nông nghiệp. Theo ông, ở những khu vực có điều kiện phù hợp, việc lựa chọn mô hình thích ứng với nước mặn, nước lợ có thể mở ra hướng sản xuất mới. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi phải hiểu rõ đặc điểm từng vùng và lựa chọn phương án phù hợp, thay vì áp dụng một mô hình chung cho toàn đồng bằng.

Ông chia sẻ: “Chúng ta không thể coi nước mặn là địch được mà nó là bạn. Vấn đề là phải hiểu điều kiện từng vùng, lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp và tổ chức được đầu ra để người nông dân có thể sống được với mô hình đó”.

Theo chuyên gia, thích ứng không có nghĩa là chuyển đổi sản xuất bằng mọi giá. Mỗi địa phương cần xem xét điều kiện đất đai, nguồn nước, lợi thế sản xuất và nhu cầu thị trường để lựa chọn hướng đi phù hợp. Trong quá trình đó, sự tham gia của nông dân, hợp tác xã, nhà khoa học và doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

ĐBSCL tìm lời giải cho bài toán nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại hội thảo “Giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng với xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long” diễn ra tại TP Cần Thơ ngày 2/11. Ảnh: Minh Triết

Những trao đổi tại hội thảo cho thấy, thích ứng với xâm nhập mặn ở ĐBSCL không thể chỉ dừng ở việc duy trì sản xuất mà cần hướng đến hiệu quả kinh tế lâu dài. Từ quản lý nguồn nước, lựa chọn mô hình canh tác đến tổ chức chuỗi tiêu thụ, các giải pháp cần xuất phát từ điều kiện thực tế của từng vùng và khả năng của người sản xuất.

Sau cùng, một mô hình nông nghiệp thích ứng chỉ thực sự bền vững khi vừa phù hợp với điều kiện tự nhiên, vừa mang lại thu nhập ổn định cho người nông dân. Đây cũng là yêu cầu đặt ra trong quá trình chuyển đổi sản xuất ở ĐBSCL, để người dân không chỉ giảm thiểu rủi ro do hạn hán, xâm nhập mặn mà còn có thể yên tâm gắn bó lâu dài với nghề nông./.

Một số hình ảnh ghi nhận tại hội thảo:

Bài liên quan

Làm rõ nguồn lực phòng chống thiên tai và cơ chế hỗ trợ địa phương giữ đất lúa

Làm rõ nguồn lực phòng chống thiên tai và cơ chế hỗ trợ địa phương giữ đất lúa

Giải trình trước Quốc hội sáng 31/10, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng làm rõ việc triển khai công nghệ sinh học, bố trí vốn phòng chống thiên tai và cơ chế hỗ trợ địa phương duy trì đất lúa. Các đại biểu đề nghị thúc đẩy làm chủ công nghệ lõi, tăng nguồn lực bảo vệ sản xuất và chia sẻ chi phí thực hiện nhiệm vụ an ninh lương thực quốc gia.
Lồng ghép rủi ro khí hậu vào quy hoạch đô thị, nông thôn

Lồng ghép rủi ro khí hậu vào quy hoạch đô thị, nông thôn

Điều chỉnh quy hoạch khu dân cư, nâng khả năng chống chịu của hạ tầng và phát triển công trình xanh là những nội dung được đề xuất trong nghiên cứu xây dựng kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu ngành xây dựng giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Hải Phòng: Dấu ấn chung kết cuộc thi tiếng Hàn lần thứ 12

Hải Phòng: Dấu ấn chung kết cuộc thi tiếng Hàn lần thứ 12

Đóng vai trò là "chìa khóa" mở ra sự hiểu biết và đồng điệu giữa hai dân tộc, Chiều 1/11 Chung kết Cuộc thi tiếng Hàn lần thứ 12 - Hải Phòng 2026 đã để lại những dư âm sâu sắc về sự kết nối tri thức và văn hóa. Việc duy trì và phát triển cuộc thi qua hơn một thập kỷ không chỉ thắp sáng niềm đam mê ngôn ngữ trong thế hệ trẻ đất Cảng, mà còn củng cố nền tảng xã hội vững chắc, gia cố bệ phóng cho các hoạt động hợp tác kinh tế - văn hóa và ngoại giao nhân dân Việt - Hàn ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất.
Tp Huế lấy nông nghiệp hữu cơ làm hướng đi chủ đạo, nâng cao giá trị sản phẩm

Tp Huế lấy nông nghiệp hữu cơ làm hướng đi chủ đạo, nâng cao giá trị sản phẩm

Tp Huế định hướng lấy nông nghiệp hữu cơ làm hướng đi chủ đạo, phát triển kinh tế tuần hoàn gắn với liên kết chuỗi giá trị, nâng cao chất lượng nông sản...
Hải Phòng: Khai trương tuyến phố thương mại, văn hóa và ẩm thực số 53 Lạch Tray

Hải Phòng: Khai trương tuyến phố thương mại, văn hóa và ẩm thực số 53 Lạch Tray

Trong không khí rực rỡ và nhộn nhịp của thành phố Cảng khi lên đèn, chiều tối 30/10, không gian số 53 Lạch Tray trở thành tâm điểm chú ý khi UBND phường Gia Viên chính thức khai trương tuyến phố thương mại, văn hóa và ẩm thực đêm. Việc đưa vào vận hành tuyến phố không chỉ kiến tạo một "điểm hẹn" thưởng thức văn hóa ẩm thực và giải trí mới mẻ, mang đậm chất sống phóng khoáng của đất Cảng, mà còn thổi luồng sinh khí tươi trẻ vào nhịp sống đô thị về đêm. Ông Đỗ Thành Trung, Chủ tịch UBND thành phố đã tới dự, chứng kiến mốc khởi đầu đầy ấn tượng của không gian văn hóa - thương mại này
Nâng tầm chè Thái Nguyên bằng hệ sinh thái tích hợp đa giá trị

Nâng tầm chè Thái Nguyên bằng hệ sinh thái tích hợp đa giá trị

Tại Diễn đàn Kinh tế chè quốc tế 2026, yêu cầu đổi mới tư duy phát triển ngành chè được đặt ra với trọng tâm kiến tạo hệ sinh thái kết nối văn hóa, khoa học công nghệ, du lịch và thị trường. Phát triển chè chất lượng cao, chè đạt tiêu chuẩn hữu cơ là một nội dung được đề cập nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, bảo vệ môi trường và sinh kế của người trồng chè.

CÁC TIN BÀI KHÁC

Lồng ghép rủi ro khí hậu vào quy hoạch đô thị, nông thôn

Lồng ghép rủi ro khí hậu vào quy hoạch đô thị, nông thôn

Điều chỉnh quy hoạch khu dân cư, nâng khả năng chống chịu của hạ tầng và phát triển công trình xanh là những nội dung được đề xuất trong nghiên cứu xây dựng kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu ngành xây dựng giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Nâng tầm chè Thái Nguyên bằng hệ sinh thái tích hợp đa giá trị

Nâng tầm chè Thái Nguyên bằng hệ sinh thái tích hợp đa giá trị

Tại Diễn đàn Kinh tế chè quốc tế 2026, yêu cầu đổi mới tư duy phát triển ngành chè được đặt ra với trọng tâm kiến tạo hệ sinh thái kết nối văn hóa, khoa học công nghệ, du lịch và thị trường. Phát triển chè chất lượng cao, chè đạt tiêu chuẩn hữu cơ là một nội dung được đề cập nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, bảo vệ môi trường và sinh kế của người trồng chè.
ĐH Nông Lâm Huế thúc đẩy hợp tác khoa học, phát triển chăn nuôi bền vững

ĐH Nông Lâm Huế thúc đẩy hợp tác khoa học, phát triển chăn nuôi bền vững

Hội nghị AAAP 2026 là sự kiện kết nối khoa học, công nghệ, mở hợp tác, thúc đẩy chăn nuôi xanh, sạch, an toàn, tăng năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh...
Hội nghị Khoa học Chăn nuôi Á Úc 2026 bàn giải pháp phát triển chăn nuôi bền vững

Hội nghị Khoa học Chăn nuôi Á Úc 2026 bàn giải pháp phát triển chăn nuôi bền vững

Ngày 28/10, tại Hà Nội, Hội nghị Khoa học Chăn nuôi Á Úc lần thứ 21 (AAAP 2026) khai mạc với chủ đề “Chăn nuôi bền vững”. Chương trình tập trung trao đổi các giải pháp khoa học, công nghệ và chính sách liên quan đến sản xuất, môi trường, sinh kế người chăn nuôi và phúc lợi động vật.
Nông nghiệp tri thức đưa nông sản Việt vươn tầm quốc tế

Nông nghiệp tri thức đưa nông sản Việt vươn tầm quốc tế

Chuyển đổi số và khoa học công nghệ đang trở thành động lực cốt lõi giúp ngành trồng trọt Việt Nam tối ưu hóa chi phí, nâng cao chất lượng và chinh phục thị trường toàn cầu.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam

Nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam

Mới đây, tại Hà Nội, Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Quản lý tài nguyên bền vững và thúc đẩy chuỗi giá trị nông sản – thực phẩm minh bạch, trách nhiệm trong bối cảnh mới” do Khoa Bất động sản và Kinh tế tài nguyên (Đại học Kinh tế Quốc dân) tổ chức với sự phối hợp của Trường Đại học Mỏ – Địa chất, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội và Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam và hướng tới mô hình phát triển kinh tế xanh, minh bạch, có trách nhiệm.
Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 2: Giải pháp từ chính sách đến thị trường

Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 2: Giải pháp từ chính sách đến thị trường

Chuẩn hóa nguyên liệu, nâng cao chất lượng phân bón, phát triển chế phẩm sinh học và tăng cường liên kết sản xuất là những giải pháp được đặt ra từ thực tiễn doanh nghiệp. Để các giải pháp phát huy hiệu quả, cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp và người sản xuất hữu cơ.
Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn - người tiên phong đưa cây mắc ca từ Australia về Việt Nam

Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn - người tiên phong đưa cây mắc ca từ Australia về Việt Nam

Trong hành trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam, có những con người không chỉ để lại dấu ấn qua những quyết sách trong thời gian đương chức, mà còn được nhớ đến bởi tầm nhìn vượt trước thời gian. Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn là một trong những người như vậy. Gắn bó với lĩnh vực nông nghiệp trong nhiều năm, ông quan tâm đến việc tìm kiếm những giống cây trồng mới, có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện sinh thái nước ta. Trong câu chuyện phát triển cây mắc ca ở Việt Nam, tên tuổi ông gắn với những nỗ lực vận động, nghiên cứu và thúc đẩy đưa loại cây có nguồn gốc từ Australia này vào sản xuất.
Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 1: Những rào cản từ thực tiễn

Gỡ nút thắt vật tư nông nghiệp hữu cơ - Kỳ 1: Những rào cản từ thực tiễn

Vật tư đầu vào đáp ứng tiêu chuẩn, giá thành hợp lý và phát huy hiệu quả trên đồng ruộng đang là mối quan tâm của nhiều doanh nghiệp sản xuất hữu cơ. Tại hội nghị về vật tư đầu vào tổ chức ngày 17/10 ở TP. Hồ Chí Minh, những khó khăn từ khâu sản xuất phân bón đến sử dụng chế phẩm sinh học đã được đặt ra, cho thấy yêu cầu tháo gỡ các rào cản trong chuỗi cung ứng vật tư phục vụ nông nghiệp hữu cơ.
Phú Thọ tăng cường hợp tác phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao

Phú Thọ tăng cường hợp tác phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao

Đồng chí Phạm Đại Dương - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ đã chủ trì hội nghị trao đổi hợp tác với Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam về phát triển các sản phẩm nông nghiệp giá trị kinh tế cao giai đoạn 2026 - 2035.
Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trường

Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và sinh thái: Tháo gỡ điểm nghẽn, kết nối thị trường

Từ vật tư đầu vào, tiêu chuẩn, chứng nhận đến tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nhiều vấn đề thực tiễn được các nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã đưa ra tại Hội thảo “Thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ và sinh thái ở Việt Nam”. Nhìn lại chặng đường 15 năm hình thành và phát triển của Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) (2011 - 2026), các đại biểu đề xuất những giải pháp để mở rộng sản xuất, củng cố niềm tin thị trường và nâng cao giá trị cho người làm hữu cơ.
Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 3: Phân bón giả và cái giá phải trả của người nông dân

Làm sạch thị trường phân bón Việt Nam - Kỳ 3: Phân bón giả và cái giá phải trả của người nông dân

Thị trường phân bón liên tiếp phát hiện các vụ sản xuất, kinh doanh hàng giả với quy mô lớn, cho thấy công tác kiểm soát chất lượng vật tư nông nghiệp cần được siết chặt. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến chi phí, năng suất và hiệu quả mùa vụ của người nông dân mà còn tác động đến uy tín của doanh nghiệp chân chính và tính minh bạch của thị trường.
XEM THÊM
dam-ca-mau-chi-vi-hoa
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9
Quay về đầu trang
Giao diện máy tính